CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Nguồn vốn và hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại 1. Nguồn vốn của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Sự hình thành, tồn tại và phát triển của ngân hàng thương mại gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế.
Khi nền kinh tế của một quốc gia càng phát triển, đời sống của người “ dân được cải thiện, nhu cầu về sử dụng vốn và các dịch vụ tài chính của họ càng phong phú hơn yêu cầu các NHTM phải đổi mới và hiện đại hơn để theo kịp xu hướng. Tại Việt Nam, hiện nay, khi nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ thì hệ thống ngân hàng thương mại cũng ngày càng hoàn thiện trở thành một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống tài chính. Có rất nhiều quan điểm, định nghĩa về khái niệm NHTM. Cao Thị Ý Nhi & Đặng Anh Tuấn (2018) coi ngân hàng thương mại là “bà đỡ” về vốn cho nền kinh tế.
Hai tác giả cho rằng ngoài hoạt động chính của ngân hàng thương mại là đi vay từ những người dư thừa vốn để dùng vốn đó cho vay lại những người thiếu vốn, cần vốn đầu tư. Ngoài ra, NHTM trong nền kinh tế hiện đại còn cung cấp các dịch vụ phi tín dụng khác. Luật Các tổ chức tín dụng mới nhất được ban hành năm 2024, ngân hàng được định nghĩa như sau: “Ngân hàng là tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.
Trong đó, “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Và cụ thể các hoạt động ngân hàng cũng được định nghĩa rõ trong Luật này, đó là các hoạt động kinh doanh, cung ứng thường xuyên cho khách hàng một hoặc một số các dịch vụ sau: nhận tiền, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Ngoài ra, một số các hoạt động kinh doanh khác cũng được ghi rõ trong Luật như: Dịch vụ quản lý tiền mặt; dịch vụ ngân quỹ cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; dịch vụ bảo quản tài sản, cho thuê tủ, két an toàn; dịch vụ chuyển tiền, thu hộ, chi hộ và các dịch vụ thanh toán khác không qua tài khoản; mua bán tín phiếu, trái phiếu hợp lệ ; môi giới tiền tệ; kinh doanh càng; tư vấn tài chính;…. Ngân hàng thương mại chính là loại hình tổ chức tài chính trung gian quan trọng bậc nhất trong thị trường tài chính.
Nhờ các trung gian tài chính này thực hiện chức năng 4 trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền, hoạt động của các chủ thể khác trên thị trường cũng trở nên dễ dàng hơn. Dù nhìn nhận ngân hàng thương mại trên quan điểm nào thì đều có một điểm chung là có cùng mục đích hoạt động nhằm thu được lợi nhuận. Nhưng bởi điểm đặc biệt của NHTM là kinh doanh tiền tệ nên phải tuân thủ chặt chẽ theo các luật liên quan như Luật Các tổ chức tín dụng và Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, phải chịu sự giám sát của Ngân hàng Trung ương (NHTW). Nguồn vốn của ngân hàng thương mại Theo Phan Thị Thu Hà (2023), các NHTM huy động vốn dưới dạng tiền tệ và có rất nhiều cách để phân loại nguồn vốn trong ngân hàng.
Có thể phân chia theo thời hạn, theo loại tiền tệ, theo phương thức huy động vốn, theo khách hàng, theo tính chất hoàn trả và theo mục tiêu của khách hàng. Trong những cách phân loại đó, phân chia theo tính chất hoàn trả là phù hợp nhất để phân tích mục đích quản lý và sử dụng, cụ thể như sau: ❖ Vốn chủ sở hữu Nguyễn Hương (2023) cho rằng vốn chủ sở hữu (VCSH) là nguồn vốn thuộc quyền sở “ hữu của doanh nghiệp hoặc được các nhà đầu tư, các thành viên góp vốn, các cổ đông đồng sở hữu. Nguồn vốn này được hình thành rất đa dạng: từ nguồn vốn ban đầu, nguồn “ vốn bổ sung thêm khi hoạt động và một số các quỹ của NHTM. Tùy theo loại hình NHTM, khả năng sinh lời và tình hình của thị trường tài chính, vốn chủ sở hữu của các ngân hàng thương mại khác nhau sẽ khác nhau.
- Nguồn vốn hình thành ban đầu: Đây là nguồn vốn huy động ban đầu khi ngân hàng mới thành lập cũng là nguồn vốn đảm bảo ngân hàng được phép hoạt động. - Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động: Trong quá trình hoạt động, các ngân hàng vẫn có thể tiếp tục tăng VCSH bằng cách sử dụng lợi nhuận để bổ sung. Ngoài ra, một nguồn vốn bổ sung lớn khác nhưng không thường xuyên là nguồn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần, cấp thêm, góp vốn thêm. - Các quỹ: Thu nhập của NHTM còn được sử dụng để góp vào các quỹ như quỹ thặng dư vốn, quỹ bảo toàn vốn, quỹ dự phòng tổn thất, quỹ khen thưởng đào tạo, quỹ nghiên cứu phát triển,… Tuy nhiên, không phải tất cả các quỹ đều được tính vào VCSH.
Các quỹ mà ngân hàng sử dụng hết trong năm, không thể sử dụng lâu dài hoặc các quỹ được coi là chi phí trước thuế (quỹ khen thưỡng, quỹ dự phòng, quỹ phúc lợi,…) tùy theo quy định cụ thể sẽ không được coi là một phần của VCSH. ❖ Vốn nợ 5 Ngân hàng thương mại có thể huy động vốn thông qua nguồn vay nợ. Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngân hàng, thường lớn hơn gấp nhiều lần so với VCSH. Đặc điểm chung của vốn nợ là ngân hàng sẽ phải trả lại lập tức khi có yêu cầu hoặc khi khoản nợ đến hạn.
- Nguồn tiền gửi và các hoạt động huy động tiền gửi: Tiền gửi của khách hàng thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong vốn nợ cũng như tổng nguồn tiền của NHTM. Thông thường, khoản này chiếm hơn 50% tổng nguồn vốn và khoảng 70% nguồn vốn nợ, là mục tiêu tăng trưởng của các NHTM (Phan Thị Thu Hà, 2023). Đây là nguồn tiền mà khách hàng cho NHTM vay để kinh doanh hoặc đáp ứng các nhu cầu cần thiết chứ không phải là nguồn vốn thuộc sở hữu của ngân hàng. Các nguồn tiền được huy động từ các chủ thể khác nhau với các đặc tính khác nhau cũng sẽ mang những đặc điểm khác về chi phí, tiện ích, chính sách và mức độ rủi ro cho ngân hàng.
- Nguồn tiền vay và nghiệp vụ đi vay của NHTM: Khi cần thiết hoặc có nhu cầu cấp bách về nguồn vốn ổn định hay nhu cầu thanh khoản gấp, NHTM có thể vay từ NHNN hoặc các tổ chức tín dụng (TCTD) khác để bù đắp những thiếu hụt này. Nguồn này chiếm tỷ trọng thấp hơn tiền gửi, tuy nhiên lại có tính ổn định cao hơn. Các ngân NHTM không thường xuyên đi vay. Hoặc giống như các doanh nghiệp huy động vốn từ nguồn phát hành các giấy nợ, các NHTM cũng thực hiện tương tự.
- Nguồn vốn nợ khác: Các cá nhân, các tổ chức kinh tế xã hội có dư vốn đã sử dụng ngân hàng thương mại như một kênh dẫn vốn, giao tiền của mình ủy thác cho các NHTM thực hiện cho vay, đầu tư, giải ngân và thu hộ, … Ngoài ra, nguồn vốn trong thanh toán cũng là một loại vốn nợ của ngân hàng, được hình thành thông qua các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt mà ngân hàng cung cấp (tiền ký quỹ mở L/C, séc đang trong quá trình chi trả, …). Các khoản tiền tạm thời đang còn nợ như lương chưa trả hay thuế chưa nộp cũng là vốn nợ của ngân hàng. - Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần : Dù không phổ biến nhưng có một “ “ số ít khoản vay trung và dài hạn của NHTM được coi là nguồn vốn lưỡng tính. Các giấy nợ có khả năng chuyển đổi ban đầu khi chưa chuyển thành vốn cổ phần được coi là một khoản nợ của ngân hàng và được hạch toán vào vốn nợ.
- Nguồn nợ tiềm tàng: Các NHTM thường xin sẵn hạn mức tín dụng của các định chế tài chính khác nhằm mục đích dự phòng để có thể nhanh chóng vay vốn khi cần thiết. Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại Huy động vốn (HĐV) là một trong các hoạt động chính và cơ bản nhất của NHTM. Các NHTM thực hiện tìm kiếm và tiếp nhận nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các tổ chức và cá nhân bằng nhiều hình thức khác nhau để hình thành nên nguồn vốn hoạt động của 6 ngân hàng. Đây là hoạt động tiền đề có ý nghĩa quan trọng không chỉ với ngân hàng mà còn với cả nền tài chính quốc gia, tình hình kinh tế xã hội.
Bởi vốn chính là công cụ chính giúp các ngân hàng thực hiện hoạt động kinh doanh của mình. Trong quá trình hoạt động, ngân hàng thương mại được phép sử dụng các biện pháp và công cụ cần thiết mà pháp luật cho phép để tìm kiếm, thu hút và huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để hình thành nên nguồn vốn ổn định phục vụ cho mục đích kinh doanh, đầu tư và thu được lợi nhuận. Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại Là doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, NHTM hoạt động với bản chất là “đi “ vay để cho vay”. NHTM có thể HĐV từ chủ sở hữu hoặc huy động từ dân cư và các tổ chức bên ngoài.
Trong cơ cấu vốn của ngân hàng, nguồn vốn huy động từ khách hàng thường chiếm tỷ trọng lớn nhất, gấp nhiều lần so với vốn từ chủ sở hữu ngân hàng. Tại các chi nhánh ngân hàng, hình thức huy động vốn chủ sở hữu không được triển khai mà chỉ thực hiện huy động vốn nợ. Đây là nguồn vốn thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu vốn của ngân hàng. Hầu hết các ngân hàng thương mại khi muốn mở rộng nguồn vốn đều thông qua việc tăng trưởng nguồn vốn huy động này.
Các hình thức huy động vốn nợ gồm: “N 1. Huy động bằng hình thức nhận tiền gửi Huy động vốn thông qua nhận tiền gửi từ khách hàng là hoạt động trọng yếu của ngân hàng, bởi nguồn vốn này là nguồn tài nguyên quan trọng, chiếm tỷ lệ lớn trong tổng nguồn tiền của các NHTM.