Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sơ lý luận của phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại Chương 2: Thực trạng phân tích tài chính doanh nghiệp trong cho vay tại Sở giao dịch Ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam Chương 3: Giải pháp hoàn thiện phân tích tài chính doanh nghiệp trong cho vay tại Sở giao dịch Ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam 5 z CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu của phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại Với mỗi quốc gia ngân hàng là một trung gian tài chính có vai trò nhƣ chiếc cầu nối giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Hoạt động tài chính của ngân hàng là nhận tiền gửi và cho vay, nghĩa là chuyển quyền sử dụng của ngƣời có tiền sang ngƣời cần vốn.
Trong đó hoạt động tín dụng trong hệ thống ngân hàng thƣơng mại có vai trò rất quan trọng, nó là hoạt động chủ yếu và chiếm tỷ trọng cao nhất trong các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng. Tuy nhiên bản thân hoạt động tín dụng cũng chứa đựng rất nhiều rủi ro gây ra những tổn thất đáng kể cho ngân hàng mà một trong những lý do chính là chất lƣợng tín dụng giảm sút. Nhƣ cựu Chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED), P. Volkerđã cho rằng: “Nếu ngân hàng không có những khoản nợ xấu thì đó không phải là hoạt động kinh doanh”.
Điều đó cho thấy rủi ro tín dụng luôn tồn tại và nợ xấu là một thực tế hiển nhiên ở bất cứ ngân hàng nào, kể cả các ngân hàng hàng đầu trên thế giới bởi có những rủi ro nằm ngoài tầm kiểm soát của con ngƣời. Trên thế giới đã có nhiều quốc gia lâm vào tình trạng khủng hoảng vì tình trạng nợ xấu. Một trong số đố là bài học kinh nghiệm của nƣớc Mỹ về rủi ro tín dụng từ quý IV/2008 lan tỏa dẫn đến khủng hoảng kinh tế tài chính, kinh tế toàn cầu đến nay dƣ âm vẫn chƣa hết là một bài học kinh nghiệm không chỉ riêng cho một quốc gia nào. Dƣới đây là tóm lƣợc một số nghiên cứu chính ở Việt Nam trong một số lƣợng rất lớn các nghiên cứu về hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại mà tác giả nhận thấy có liên quan trực tiếp đến chủ đề nghiên cứu của luận văn.
- Luận án tiến sĩ kinh tế: “ Hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước ở nước ta hiện nay” , tác giả Lê Đức Thọ (2005) đã đề cập đến thực trạng hoạt động tín dụng của nhà nƣớc và những tác động tới quá trình phát triển kinh tế xã hội Việt Nam. 6 z - Tác giả Liễu Thu Trúc và Võ Thành Danh trên Tạp chí khoa học 2012 với bài viết: “Phân tích hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam”, bài viết nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thƣơng mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn chịu nhiều tác động từ những ảnh hƣởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Trong đó, các ngân hàng quy mô nhỏ chịu ảnh hƣởng nhiều nhất và khả năng phục hồi cũng chậm nhất so với các ngân hàng quy mô lớn và vừa. - Lê Nguyễn Phƣơng Ngọc có bài: “ Quản lý rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh”.
Mục tiêu nghiên cứu của bài viết là tìm hiểu, phân tích những yếu tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Techcombank Hồ Chí Minh. Từ đó, đề ra các giải pháp nhằm giúp cho hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ đạt hiệu quả cao. Ngoài ra, còn một số sách và bài viết tập trung phân tích, đánh giá báo cáo tài chính của doanh nghiệp trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thƣơng mại nhƣ: tác giả Huỳnh Hữu Trọng “ Phân tích tình hình hoạt động tín dụng tại ngân hàng Sài Gòn- Hà Nội chi nhánh Cần Thơ”; Tác giả Nguyễn Huyền Trang: “ Giải pháp hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Quang Trung”; Tác giả Nguyên Tiến Dũng: “ Một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính tại Eximbank Vinh”; Tác giả Đƣờng Nguyên Hƣng: “ Hoàn thiện công tác phân tich báo cáo tài chính doanh nghiệp vay tín dụng tại Ngân hàng Nam Việt- Chi nhánh Đà Nẵng”. Tuy nhiên, nhìn chung những công trình nghiên cứu trên mới chỉ nghiên cứu tới một khía cạnh nào đó báo cáo tài chính doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại chứ chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ và nêu bật đƣợc những ƣu nhƣợc điểm của việc phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp và đăc biệt chƣa có sự so sánh giữa các ngân hàng thƣơng mại với nhau về việc phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng.
Cơ sở lý luận về phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm về tín dụng “ Tín dụng” xuất phát từ chữ Latin là Creditium có nghĩa là tin tƣởng, tín nhiệm. Tiếng Anh là Credit. Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, “tín dụng” có nghĩa là sự vay mƣợn.
Tín dụng là sự chuyển nhƣợng tạm thời quyền sử dụng một lƣợng giá trị dƣới hình thức hiện vật hay tiền tệ, từ ngƣời sở hữu sang ngƣời sử dụng sau đó hoàn trả lại với một lƣợng giá trị lớn hơn. Khái niệm tín dụng trên đây đƣợc hiểu theo ba mặt cơ bản sau đây: + Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lƣợng giá trị từ ngƣời này sang ngƣời khác. + Sự chuyển giao mang tính chất tạm thời. + Khi hoàn lại lƣợng giá trị đã chuyển giao cho ngƣời sở hữu phải kèm theo một lƣợng giá trị dôi thêm gọi là lợi tức.
Một quan hệ đƣợc gọi là tín dụng phải đầy đủ cả ba mặt Tín dụng ra đời rất sớm gắn liền với sự ra đời và phát triển của sản xuất hàng hóa. Cơ sở ra đời của tín dụng xuất phát từ: - Có sự tồn tại và phát triển của hàng hóa - Có nhu cầu bù đắp thiếu hụt khi gặp biến cố nhằm đảm bảo sản xuất kinh doanh, đảm bảo cuộc sống bình thƣờng. Có nhiều định nghĩa khác nhau về tín dụng, tùy thuộc vào giác độ tiếp cận mà tín dụng có thể đƣợc hiểu là: Sự trao đổi cac tài sản hiện tại để đƣợc nhận các tài sản cùng loại trong tƣơng lai. Hoặc có thể định nghĩa tín dụng nhƣ là quan hệ kinh tế, theo đó một ngƣời thỏa thuận để ngƣời khác đƣợc sử dụng số tiền hay tài sản của mình trong một thời gian nhất định với điều kiện có hoàn trả.
Trong đời sống, tín dụng hiện diện dƣới nhiều hình thái khác nhau. Tín dụng thƣơng mại là một doanh nghiệp thỏa thuận bán chịu hàng hóa cho khách hàng. Tín 8 z dụng ngân hàng là việc các ngân hàng thƣơng mại huy động vốn của khách hàng để sau đó lại cho khách hàng khác vay với mục đích kiếm lời. Ngoài ra, việc chính phủ hay những doanh nghiệp phát hành trái phiếu ra ngoài công chúng để vay tiền của các tổ chức, cá nhân cũng đƣợc xem là những hình thức tín dụng.
Đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế thị trƣờng, nghiệp vụ cho thuê tài chính do những công ty cho thuê tài chính thực hiện đối với khách hàng là các doanh nghiệp cũng đƣợc xem là một hình thức tín dụng đặc thù của nền kinh tế thị trƣờng 1. Bản chất của tín dụng Về mặt hình thức, tín dụng là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ trong một thời hạn nhất định từ người sở hữu sang người sử dụng và khi đến hạn, người sử dụng phải hoàn trả lại cho người sở hữu một lượng giá trị lớn hơn. Khoản giá trị dôi ra này được gọi là lợi tức tín dụng. Hoạt động tín dụng đã xuất hiện từ thời kỳ cuối của xã hội cộng sản khi xã hội có phân công lao động, sản xuất và trao đổi hàng hóa với hình thức sơ khai là hoạt động cho vay nặng lãi.
Do lực lƣợng sản xuất phát triển, chế độ tƣ hữu ra đời đã dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo trong nội bộ công xã. Ngƣời giàu tập trung trong tay của cải và tiền tệ, ngƣời nghèo vì thiếu tƣ liệu sản xuất và tƣ liệu sinh hoạt nên phải đi vay ngƣời giàu và chịu lãi nặng. Cho vay nặng lãi là hình thức đặc biệt trong lịch sử của tín dụng, đặc trƣng của chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến và các quan hệ tƣ bản chủ nghĩa chƣa phát triển. Cho vay nặng lãi thích ứng với nền sản xuất nhỏ.
Trong điều kiện này, ngƣời cho vay nặng lãi chiếm hầu hết sản phẩm thặng dƣ của ngƣời nông dân và thợ thủ công dƣới hình thức lợi tức. Vì thế tín dụng nặng lãi làm bần cùng hóa phạm vi rộng lớn những ngƣời sản xuất nhỏ và góp phần làm xuất hiện phƣơng thức sản xuất tƣ bản chủ nghĩa. Tuy vậy, khi phƣơng thức sản xuất tƣ bản chủ nghĩa phát triển, việc cho vay nặng lãi đã trở thành chƣớng ngại cho sự phát triển của chủ nghĩa tƣ bản vì lợi tức tín dụng quá cao và vì vậy dần bị đẩy lùi. Chủ nghĩa tƣ bản 9 z chống nạn cho vay nặng lãi thông qua những luật lệ của nhà nƣớc tƣ bản và những điều răn đe cấm hoặc kết tội của nhà thờ, nhƣng chủ yếu bằng những biện pháp kinh tế nhƣ lập ra các ngân hàng, xây dựng chế độ tín dụng tƣ bản chủ nghĩa.
Trong nền kinh tế thị trƣờng, đồng tiền phản ánh quan hệ cung cầu và quy luật giá trị. Mọi vận hành kinh tế đều đƣợc tiền tệ hóa. Mỗi chủ thể tham gia nền kinh tế đều cần nguồn vốn để hoạt động trên thị trƣờng hoặc nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình. Tuy nhiên nguồn vốn tự có thƣờng không đủ, trong khi đó, ở một nơi khác lại có ngƣời đang có vốn nhàn rỗi.