phần mở đầu, kết luận, các phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hoạt động marketing trong XKLĐ của doanh nghiệp - Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động marketing trong xuất khẩu lao động của công ty cổ phần cung ứng nhân lực và thƣơng mại Vietcom - Chƣơng 3: Giải pháp đẩy mạnh các hoạt động marketing trong xuất khẩu của công ty cổ phần cung ứng nhân lực và thƣơng mại Vietcom. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MARKETING TRONG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về marketing Có rất nhiều khái niệm khác nhau về marketing, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh thực tế và nhận thức khác nhau mà ngƣời ta có những cách định nghĩa marketing khác nhau.
Sự khác nhau không chỉ ở mức độ chi tiết mà còn phản ánh ở nội dung mà nó chứa đựng. Nhƣng ai cũng công nhận rằng marketing ra đời là nhằm hỗ trợ có hiệu quả cho hoạt động thƣơng mại, bán hàng và tiêu thụ sản phẩm. Marketing là một thuật ngữ, do đó marketing không có tên gọi tƣơng đồng trong tiếng Việt. Một số sách giáo trình marketing Việt Nam cho rằng marketing là "tiếp thị", tuy nhiên, đó không phải là tên gọi tƣơng đồng chính xác vì "tiếp thị" không bao hàm hết đƣợc ý nghĩa của marketing.
Có rất nhiều khái niệm, định nghĩa về marketing, tuy nhiên, định nghĩa của Philip Kotler (theo Principles of Marketing) là định nghĩa mà tác giả cho rằng chính xác nhất. - Theo Philip Kotler (2000) : "Marketing là quá trình tạo dựng các giá trị từ khách hàng và mối quan hệ thân thiết với khách hàng nhằm mục đích thu về giá trị lợi ích cho doanh nghiệp, tổ chức từ những giá trị đã đƣợc tạo ra". - Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ: "Marketing là quá trình lên kế hoạch và tạo dựng mô hình sản phẩm (concept), hệ thống phân phối, giá cả và các chiến dịch promotion nhằm tạo ra những sản phẩm hoặc dịch vụ (exchanges/marketing offerings) có khả năng thỏa mãn nhu cầu các cá nhân hoặc tổ chức nhất định". - Theo trƣờng Đại Học Tài Chính - Marketing Tp.HCM: "Marketing là sự kết hợp của nhiều hoạt động liên quan đến công việc kinh doanh nhằm điều phối sản phẩm hoặc dịch vụ từ nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp đến ngƣời tiêu dùng".
- Theo Wikipedia: "Marketing là việc nhận dạng ra đƣợc những gì mà con ngƣời và xã hội cần. Một sản phẩm nếu đƣợc tạo ra mà không ai có nhu cầu dùng và 8 mua thì sẽ không bán ra đƣợc, từ đó sẽ không có lãi. Mà nếu vậy, thì sản xuất sẽ trở thành không sinh lợi". Trải qua nhiều giai đoạn, thuật ngữ marketing đƣợc đề cập đến nhƣ marketing bán hàng, marketing bộ phận.
Ngày nay, dƣới ánh sáng của khoa học kỹ thuật, trình độ tổ chức quản lý và với trình độ tiên tiến của nền công nghiệp hiện đại, marketing công ty hay marketing hiện đại ra đời. Theo quan điểm mới này, hoạt động marketing đã có bƣớc phát triển mạnh cả về lƣợng và chất, giải thích một cách đúng đắn hơn ý nghĩa mà nó chứa đựng. Theo đó, marketing đƣợc định nghĩa nhƣ sau: - Theo E.J McCarthy (1960): “Marketing là quá trình thực hiện các hoạt động nhằm đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức thông qua việc đoán trƣớc các nhu cầu của khách hàng hoặc ngƣời tiêu thụ để điều khiển các dòng hàng hóa dịch vụ thoả mãn các nhu cầu từ nhà sản xuất tới các khách hàng hoặc ngƣời tiêu thụ”. Và để ứng dụng marketing hiện đại vào lĩnh vực thƣơng mại của các tổ chức kinh tế, có thể hiểu: “Marketing thƣơng mại là quá trình tổ chức, quản lý và điều khiển các hoạt động nhằm tạo ra khả năng và đạt đƣợc mục tiêu tiêu thụ có hiệu quả nhất sản phẩm của một tổ chức trên cơ sở thoả mãn một cách tốt nhất nhu cầu của nhà sản xuất, nhà thƣơng mại và ngƣời tiêu thụ”.
Tóm lại khi nhắc đến khái niệm, định nghĩa marketing, đây là một thuật ngữ chỉ các hoạt động trong các tổ chức (cả tổ chức kinh doanh và tổ chức phi lợi nhuận) bao gồm việc tạo dựng giá trị từ khách hàng, xây dựng mối quan hệ với khách hàng, xây dựng mô hình sản phẩm, giá cả, hệ thống phân phối và chiến dịch promotion. với mục đích nhằm tạo ra sản phẩm, dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của 1 hoặc nhiều nhóm khách hàng nhất định và thu về giá trị lợi ích từ những giá trị đã đƣợc tạo ra. Khái niệm về marketing dịch vụ Marketing dịch vụ là sự phát triển lý thuyết chung của Marketing và lĩnh vực dịch vụ. Dịch vụ lại rất biến động và đa dạng với nhiều ngành khách biệt nhau.
Vì thế cho tới nay về học thuật chƣa có định nghĩa nào khái quát đƣợc đầy đủ về marketing dịch vụ. Philip Kotler đã nêu rằng: “ Marketing dịch vụ đòi hỏi các giải 9 pháp nâng cao chất lƣợng, năng suất sản phẩm, dịch vụ, tác động nhằm thay đổi cầu vào việc định giá cũng nhƣ phân phối cổ đông”. Theo Kpippendori thì: “ Đây là một sự thích ứng có hệ thống và phối hơp chính sách kinh doanh dịch vụ tƣ nhân và chính phủ với sự thỏa mãn tối ƣu những nhu cầu của những nhóm khách hàng đã đƣơc xác định và đạt đƣợc lợi nhuận xứng đáng”. Marketing dịch vụ đƣợc định nghĩa một cách tổng thể nhƣ sau: “ Marketing dịch vụ là sự thích nghi lý thuyết hệ thống vào thị trƣờng dịch vụ bao gồm quá trình thu nhận, tìm hiểu, đánh giá và thoả mãn nhu cầu của thị trƣờng mục tiêu bằng hệ thống các chính sách, các biện pháp tác động vào toàn bộ quá trình tổ chức sản xuất, cung ứng và tiêu dùng dịch vụ thông qua phân phối các nguồn lực của tổ chức.
Marketing đƣợc xem xét trong sự năng động của mối quan hệ qua lại giữa các sản phẩm dịch vụ của công ty và nhu cầu của ngƣời tiêu dùng cùng với hoạt động của đối thủ cạnh tranh trên nền tảng cân bằng lợi ích giữa doanh nghiệp, ngƣời tiêu dùng và xã hội”. Nhƣ vậy, marketing dịch vụ thực chất là nghiên cứu nhu cầu và thỏa mãn tối đa các nhu cầu đó trên cơ sở tận dụng tối đa các nguồn lực bên trong cùng với sự kết hợp có hiệu quả với các nguồn lực bên ngoài doanh nghiệp. Khái niệm về XKLĐ Xuất khẩu lao động (XKLĐ) là hoạt động kinh tế của một doanh nghiệp thực hiện việc cung ứng lao động cho cho doanh nghiệp tại quốc gia khác trên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có tính chất hợp pháp quy định sự thống nhất giữa quốc gia đƣa và nhận lao động. Theo khái niệm của ILO (2013), Global Employment Trends: Recovering from a Second jobs Dip, ILO, Switzerland: Báo cáo nghiên cứu cuộc khủng hoảng việc làm toàn cầu, trong đó, tâm điểm là khủng hoảng tại các nƣớc phát triển và ảnh hƣởng của nó tới các quốc gia đang phát triển.
Báo cáo đƣa ra các chỉ số định lƣợng và định tính của thị trƣờng lao động toàn cầu và khu vực, kết hợp phân tích các yếu tố vĩ mô để đƣa ra chính sách phù hợp: “Hoạt động XKLĐ là kết quả của sự mất cân bằng giữa nƣớc tiếp nhận và nƣớc gửi lao động, thƣờng là mất cân đối về kinh tế, về khả năng cung- cầu lao động, về sự phân bố tài nguyên - địa lý không đồng 10 đều và sự phụ thuộc vào các chính sách quốc gia. Các yếu tố này đã tạo nên sự di chuyển hoặc tuyển ngƣời lao động từ nƣớc này sang nƣớc khác để bù đắp sự thiếu hụt và dƣ thừa lao động giữa các nƣớc và khu vực với nhau”. XKLĐ giữa các quốc gia xuất phát từ nhiều nguyên nhân tuy nhiên mục đích kinh tế có thể nhận thấy rõ nhất. Các nƣớc XKLĐ thƣờng là những nƣớc kém phát triển, tỷ lệ thất nghiệp cao, có nguồn lao động dƣ thừa.
Trong khi các nƣớc phát triển có nền kinh tế tăng trƣởng cao, đời sống đƣợc cải thiện lại thiếu lao động và có một số công việc thiếu lao động do ngƣời dân không muốn làm. Chính điều này đã làm cho nhu cầu xuất khẩu và nhập khẩu lao động của các nƣớc nảy sinh, tạo nên cung- cầu trên thị trƣờng lao động thế giới. Đặc điểm cơ bản của hoạt động dịch vụ XKLĐ: - Thứ nhất: Hoạt động XKLĐ là một hoạt động kinh tế không thể tách rời khỏi sự phát triển của đất nƣớc của nhiều quốc gia. Hiện nay, XKLĐ đƣợc xem là một trong những chính sách nằm trong chƣơng trình việc làm của mỗi quốc gia nhằm giải quyết lƣợng lao động mỗi ngày một gia tăng, không những thế nhà nƣớc có thể thu đƣợc một lƣợng ngoại tệ lớn thông qua hình thức chuyển tiền về nƣớc của lao động và các lợi ích khác.
Những lợi ích này buộc nƣớc xuất khẩu phải chiếm lĩnh ở mức cao nhất thị trƣờng lao động nƣớc ngoài, mà việc chiếm lĩnh đƣợc hay không lại dựa trên cung cầu lao động. Bên “cầu phải tính toán kĩ hiệu quả kinh tế của việc nhập khẩu lao động. Vì vậy cần xác định chặt chẽ số lƣợng, chủng loại lao động hợp lý. Bên “cung” mong muốn xuất đƣợc càng nhiều lao động càng tốt.
Do vậy bên “cung” cần có sự chuẩn bị đầu tƣ, đáp ứng với bên “cầu”. Chất lƣợng lao động càng cao càng đem lại hiệu quả lao động lớn, do đó càng đƣợc thị trƣờng nƣớc ngoài chấp nhận. Chất lƣợng lao động cao thể hiện ở trình độ tay nghề ngƣời lao động phù hợp với công nghệ của nƣớc tiếp nhận lao động, có thể lực tốt, có ngoại ngữ, đƣợc trang bị kiến thức làm việc theo tác phong công nghiệp, am hiểu pháp luật, phong tục tập quán của nƣớc sử dụng lao động dễ thích ứng với môi trƣờng. - Thứ hai: Hoạt động XKLĐ là hoạt động thê hiện rõ tính xã hội: Thực chất XKLĐ là hoạt động xuất khẩu sức lao động.
Trong khi đó, sức lao động lại gắn bó 11 chặt chẽ với ngƣời lao động, không tách rời khỏi ngƣời lao động. Do vậy, mọi chính sách, pháp luật trong lĩnh vực XKLĐ phải kết hợp với các chính sách xã hội, đảm bảo làm sao để ngƣời lao động ở nƣớc ngoài đƣợc lao động nhƣ cam kết trong hợp đồng lao động, cũng nhƣ đƣợc tham gia đầy đủ các hoạt động công đoàn. Hơn nữa, lao động xuất khẩu dẫu sao cũng chỉ có thời hạn, do vậy nƣớc XKLĐ cần phải có những chế độ tiếp nhận và sử dụng ngƣời lao động sau khi họ hoàn thành hợp đồng về nƣớc.