CHƯƠNG I: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY DNVVN TẠI NHTM 1.1: Khái niệm về hoạt động cho vay tại Ngân hàng thương mại - Theo khoản 3 điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010 nói rằng: Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. - Khoản 14 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng 2010: “ Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh và các nghiệp vụ tín dụng khác”. - Khoản 16 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng 2010: “ Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Theo quan điểm của cá nhân, hoạt động cho vay tại NHTM là cuộc giao dịch giữa ngân hàng với khách hàng trong đó ngân hàng sẽ cấp cho khách hàng một khoản tiền, nghĩa vụ của khách hàng là dùng vốn đúng mục đích, phải trả lãi và gốc tại mốc thời gian, theo hình thức xác định theo đúng như cam kết trong hợp đồng cho vay.2: Khái niệm về DNVVN - Theo điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP đưa ra: “DNVVN là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên).
- Tiêu chí phân loại Doanh nghiệp vừa và nhỏ theo quy định tại Điều 5 Nghị định 80/2021/NĐ-CP như sau: 14 Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam DN siêu nhỏ DN nhỏ DN vừa Lĩnh vực Lĩnh vực Lĩnh vực Lĩnh vực Lĩnh vực Lĩnh vực nông-lâm- thương nông- thương nông- thương ngư mại, dịch lâm-ngư mại, dịch lâm-ngư mại, dịch nghiệp, vụ nghiệp, vụ nghiệp, vụ công công công nghiệp, nghiệp, nghiệp, xây dựng xây dựng xây dựng Số lao động tham gia <= 10 <=10 <= 100 <= 50 <= 200 <= 100 BHXH năm (người) Tổng nguồn <= 3 <= 3 <=20 <= 50 <= 100 <= 100 vốn năm (tỷ) Tổng doanh <= 3 <= 3 <= 50 <= 100 <= 200 <= 300 thu năm (tỷ) ( Nguồn: Điều 5 Nghị định 80/2021/NĐ-CP) 1.3: Khái niệm và phân loại cho vay DNVVN * Khái niệm: Từ những khái niệm liên quan đến hoạt động cho vay, DNVVN và theo quan điểm của cá nhân thì có thể hiểu: “ Cho vay DNVVN là cuộc giao dịch giữa ngân hàng với các DNVVN trong đó ngân hàng sẽ cấp cho DN một khoản tiền, nghĩa vụ của DN là 15 dùng đúng mục đích vay vốn, phải trả lãi và gốc tại mốc thời gian, hình thức xác định theo đúng như cam kết trong hợp đồng cho vay”. * Phân loại : - Phân loại theo thời hạn khoản vay: Dựa trên điều 10 Thông tư 39/2016/TT- NHNN và nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hoàng Quân (2021), ‘ Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hà Nội I’, có thể phân loại như sau: + Vay ngắn hạn: là các khoản vay có thời hạn từ 12 tháng trở xuống, chủ yếu nhằm mục đích tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn. Vì vậy mà mức độ rủi ro thấp hơn so với cho vay trung dài hạn nên lãi suất của các khoản vay ngắn hạn thường thấp hơn lãi suất cho vay trung dài hạn. + Vay trung dài hạn: là các khoản vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm thì được xếp vào danh mục khoản vay trung hạn, từ 5 năm trở lên là các khoản vay dài hạn.
Được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ để mở rộng sản xuất kinh doanh. Do là những doanh nghiệp quy mô nhỏ, tiềm lực tài chính còn hạn chế, năng lực quản trị chưa cao vì vậy mà việc cho vay trung dài hạn đối với DNVVN sẽ mang lại nhiều rủi ro cho ngân hàng nên các doanh nghiệp thường chịu phí, lãi suất cao hơn để giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng. - Phân loại dựa trên tài sản bảo đảm: Dựa vào điều 2 Nghị định bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng, Luận văn thạc sĩ Cao Thị Thu Hà(2019) về “Tăng cường hoạt động cho vay hộ kinh doanh tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam- chi nhánh huyện Tiền Hải” rút ra được: + Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản( còn gọi là cho vay tín chấp) : là hình thức cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố của DNVVN đi vay, chủ yếu dựa trên sự uy tín, nguồn trả nợ dự phòng dựa vào bản thân năng lực và triển vọng tài chính của chính doanh nghiệp đó. Việc cấp tín dụng thường được áp dụng với những khách hàng truyền thống, có quan hệ lâu dài và uy tín với ngân hàng, thực hiện trả nợ đúng và đủ theo cam kết, có tình hình tài chính lành mạnh, phương án sản xuất kinh doanh khả thi.
16 + Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: là hình thức cho vay mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng được cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay của chính doanh nghiệp hoặc bảo lãnh tài sản từ bên thứ ba. - Phân loại theo phương thức cho vay: Căn cứ theo điều 27 Thông tư 39/2016/TT-NHNN về Quy định hoạt động cho vay của TCTD, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng được phân loại như sau: + Cho vay từng lần: là nghiệp vụ cho vay ngắn hạn trong đó NHTM cho vay dựa trên cơ sở nhu cầu tín dụng của từng đối tượng cho vay cụ thể. Mỗi lần cho vay, ngân hàng và DNVVN thực hiện thủ tục cho vay và ký kết theo thỏa thuận cho vay. + Cho vay hợp vốn: là việc có từ hai ngân hàng trở lên cùng thực hiện cho vay đối với DNVVN.
+ Cho vay lưu vụ: là việc ngân hàng cho vay đối với DNVVN để nuôi trồng, chăm sóc cây trồng, vật nuôi có tính chất mùa vụ theo chu kỳ sản xuất liền kề trông năm hoặc các cây lưu gốc, cây công nghiệp có thu hoạch hàng năm. + Cho vay theo hạn mức: là việc ngân hàng xác định và thỏa thuận với DNVVN một mức dư nợ cho vay tối đa được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Trong hạn mức cho vay, ngân hàng thực hiện cho vay từng lần. Một năm ít nhất một lần, ngân hàng xem xét xác định lại mức dư nợ cho vay tối đa và thời gian duy trì mức dư nợ này.
+ Cho vay theo hạn mức cho vay dự phòng: là việc ngân hàng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho vay vốn trong phạm vi mức cho vay dự phòng đã thỏa thuận. + Cho vay theo hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán: ngân hàng chấp thuận cho DNVVN chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của doanh nghiệp một mức thấu chi tối đa để thực hiện dịch vụ thanh toán trên tài khoản thanh toán. + Cho vay quay vòng: ngân hàng và DNVVN thỏa thuận áp dụng cho vay đối với nhu cầu vốn có chu kỳ hoạt động kinh doanh không quá 01 (một) tháng, doanh nghiệp 17 được sử dụng dư nợ gốc của chu kỳ hoạt động kinh doanh trước cho chu kỳ kinh doanh tiếp theo nhưng thời hạn cho vay không vượt quá 03 (ba) tháng. + Cho vay tuần hoàn (rollover): ngân hàng và DNVVN thỏa thuận áp dụng cho vay ngắn hạn kèm theo các điều kiện.4: Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động cho vay DNVVN 1.1: Chỉ tiêu định tính Theo quan điểm cá nhân, để đánh giá hoạt động cho vay DNVVN có đạt hiệu quả hay không thì cần xem xét đến các yếu tố sau: - Chấp hành các bước cụ thể của quá trình cho vay, tuân thủ quy định trong cho vay DNVVN: Việc thực hiện hoạt động cho vay phải được diễn ra đúng và đủ các bước của một quy trình cho vay.
Đây vừa là điều kiện tiên quyết và cũng là cơ sở pháp lý đảm bảo quyền lợi cho cả ngân hàng và doanh nghiệp khi có vấn đề phát sinh liên quan đến rủi ro của khoản vay. Vì vậy, việc cán bộ tín dụng tuân thủ thực hiện quy trình cho vay cũng như tuân thủ điều luật đã ban hành là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của hoạt động cho vay DNVVN. - Chất lượng nguồn nhân sự của ngân hàng: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao luôn là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự lớn mạnh cũng như sức cạnh tranh của mỗi ngân hàng. Mỗi cán bộ, nhân viên ngân hàng vừa giỏi về chuyên môn, vừa có đạo đức nghề nghiệp không chỉ là bộ mặt của ngân hàng mà còn là mắt xích quan trọng trong chuỗi chu trình nghiệp vụ mang lại nguồn lợi nhuận khổng lồ, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng.
Trong cho vay DNVVN, chất lượng nhân sự ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng của hoạt động cấp tín dụng, nó được thể hiện qua tốc độ xử lý hồ sơ, giải ngân; tư vấn khách hàng; mức độ hài lòng của khách hàng. Chính vì vậy, cần đào tạo cả đức và tài cho cán bộ, nhân viên ngân hàng để có nguồn nhân lực dồi dào giúp ích cho ngân hàng. - Uy tín của ngân hàng: Là những hình ảnh của ngân hàng trong lòng khách hàng. Để có thể tạo lập, xây dựng uy tín đó mà ngân hàng cần rất nhiều thời gian cũng như tâm huyết vào việc 18 cung cấp, mang lại trải nghiệm về sản phẩm dịch vụ tốt nhất tới khách hàng.
Theo tâm lý chung, khách hàng sẽ tìm đến những ngân hàng lớn, có uy tín trên thị trường để thực hiện giao dịch. Vì vậy mà việc chiếm được lòng tin của khách hàng là một thành công lớn trong quá trình phát triển, là tiền đề cho việc huy động vốn, từ đó nâng cao chất lượng cho vay nói chung và cho vay đối với DNVVN nói riêng. Có thể nói, các yếu tố định tính là cơ sở phản ánh việc hiệu quả trong hoạt động cho vay.