Chương 1: Tổng quan tính hính nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lì luận và thực tiễn về hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA Chương 3: Thực trạng hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA ở Việt Nam thời gian qua Chương 4: Quan điểm và giải pháp tăng cường hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA ở Việt Nam 11 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Vấn đề quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA luôn dành được mối quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu, các chuyên gia trong và ngoài nước. Cho đến nay, khá nhiều nghiên cứu tại Việt Nam và quốc tế có liên quan đến tính hính thu hút, quản lý, sử dụng nguồn vốn ODA cũng như các kinh nghiệm quốc tế về quản lý nguồn vốn này được đăng trên các tạp chì kinh tế, các báo cáo nghiên cứu của nhóm tư vấn, diễn văn họp thường niên của các nhà tài trợ, báo cáo đánh giá của các cơ quan nhà nước Việt Nam và của các nhà tài trợ. Các nghiên cứu quốc tế Liên quan đến tổng quan tính hính thu hút, sử dụng ODA, các kinh nghiệm trong quản lý ODA cũng như hiệu quả viện trợ tại Việt Nam, các nghiên cứu quốc tế có thể chia thành hai mảng chình như sau: a) Các nghiên cứu tổng quan về ODA, về tính hính thu hút, quản lý sử dụng ODA, kinh nghiệm quản lý ODA và hiệu quả viện trợ quốc tế: ODA được tiếp cận/hiểu theo nhiều cách khác nhau.
Cơ bản chia thành các trường phái, quan điểm sau: Shahriar Rahman Kibriya (2011), Aid and Peace: A critique of foreign assistance, conflict and development, đã đưa ra cách hiểu về ODA theo ba quan điểm chình, đó là quan điểm lạc quan (optimistics), thực dụng (realistic) và bi quan (pessimistic). Quan điểm lạc quan nhấn mạnh đến tác động tìch cực của ODA đối với phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội ở các nước đang phát triển. Gương mặt tiêu biểu cho quan điểm này là Jeffrey Sachs, với cuốn sách có tiêu đề: “The end of poverty: Economic possibilties for our time (2005)”, cùng với thông điệp của ông là "chấm dứt nghèo đói" khi các nước phát triển cung cấp thêm ODA với mức bính quân 135-195 tỷ USD cho thập kỷ tới. Quan điểm thực dụng nhấn mạnh đến yếu tố hiệu quả trong viện trợ, do đó đòi hỏi phải có sự lựa chọn kỹ càng hơn khi cung cấp viện trợ cho bên hưởng lợi và đưa ra các đề xuất để tạo ra một thị trường viện trợ hiệu quả hơn.
Trong “Aid, Policies, and Growth”, Burnside và Dollar (2000) phát hiện ra rằng viện trợ có tác động tìch cực đến tăng trưởng ở các nước đang phát triển mà có chình sách tài chình, tiền tệ và thương mại tốt. Trong khi thực hiện chình sách tồi, viện trợ không có tác dụng tìch cực đối với sự phát triển. Quan điểm bi quan cho rằng cải cách và thực hiện các khoản viện trợ là vô ìch và bị tham những. Trong cuốn sách “The White man’s burden: Why the West’s efforts to aid the rest have done so much III and so little good” của Easterly (2006) đặt ra câu hỏi liệu những đồng tiền viện trợ thực sự đến được tay người nghèo không.
Lì do đưa ra quan điểm này ví ông cảm thấy đó là do quản lý không dân chủ và chình quyền tham nhũng tại các nước nhận viện trợ này. 12 Theo Jin-Wook Choi (2011), “From A Recipient To A Donor State: Achievements And Challenges Of Korea’s ODA”, ODA được hiểu dưới góc độ lý tưởng và thực dụng. Theo cách tiếp cận lý tưởng, coi viện trợ ODA xuất phát từ lợi ìch của nước tiếp nhận hơn là nước viện trợ (Lumsdaine và Schopf, 2007). Điều này phù hợp với bản chất của ODA là nhằm mục đìch nhân đạo (Maizels và Nissanke, 1984).
Còn cách tiếp cận thực dụng có xu hướng tập trung vào lợi ìch kinh tế và an ninh quốc gia của nước cung cấp viện trợ ODA (Arnold, 1985; Morgenthau, 1962; Noël và Thérien, 1995). Theo Anne Maurits van der Veen (2000), “Ideas and In terests in Foreign Policy: The Politics of Official Development Assistance”, ODA hiểu theo bốn cách khác nhau. Cách thứ nhất hiểu ODA theo cách thực dụng (realist) giống với quan điểm của của Jin-Wook Choi (2011); cách thứ hai hiểu ODA theo thuyết thể chế (institutionalist), nhấn mạnh vai trò của các tổ chức quốc tế như DAC trong việc đưa ra các nguyên tắc, chuẩn mực để ràng buộc các nước cùng chấp nhận và chia sẻ cùng nhau về các vấn đề quốc tế như: viện trợ ODA; cách thứ ba là hiểu ODA theo thuyết tự do (liberal), tập trung vào nhóm lợi ìch trong nước để tối đa hóa ảnh hưởng và lợi ìch riêng của họ; cách thứ tư là hiểu ODA theo thuyết kiến tạo (constructivist), nói đến đa mục tiêu trong viện trợ ODA như: ổn định quốc tế, thúc đẩy dân chủ, và bảo vệ môi trường toàn cầu. Các nghiên cứu, báo cáo của DAC - OECD (Ủy ban hỗ trợ phát triển - Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế).
Các nghiên cứu của OECD trong lĩnh vực ODA tập trung vào phân tìch chình sách về viện trợ phát triển, quản lý công. Hàng năm, tổ chức này đều có báo cáo đánh giá các thành viên, các nước cung cấp ODA; báo cáo đánh giá các chương trính phát triển (theo lĩnh vực hoặc theo các quốc gia); những số liệu phân tìch cơ bản về viện trợ (theo nhà tài trợ, nước nhận viện trợ hay khu vực và theo lĩnh vực). Một số nghiên cứu nổi bật trong thời gian qua là: Tổng quan viện trợ phát triển 2010: Số liệu theo khu vực (phân tìch số liệu ODA theo 5 khu vực Châu Phi, Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Đại dương). Viện trợ tốt hơn - Quản lý các nguồn lực phát triển: Xem xét lại quá trính tăng cường quản lý tài chình công, đưa ra các khuyến nghị nhằm đạt được các mục tiêu 2010 của Tuyên bố Paris.
Báo cáo năm 2009 của DAC về Dự báo viện trợ - Điều tra Kế hoạch chi tiêu 2009 - 2011 của các nhà tài trợ: phân tìch kế hoạch chi tiêu của các nhà tài trợ trong 3 năm, nhằm tằng khả năng dự báo viện trợ quốc tế. Các quốc gia chủ yếu đi nghiên cứu làm thế nào để có thể thu hút được nhiều vốn ODA và sử dụng có hiệu quả vốn này để từ đó đề ra hàng loạt các chình sách cụ thể. Vì dụ như những nghiên cứu của Philippin, Kenya được trính bày trong tài liệu Thực trạng của viện trợ 1998 - 1999 của Ngân hàng Thế giới, NXB Chình trị quốc gia, 13 Hà Nội, 1999. Hàng năm các nhà tài trợ chình về ODA như WB, ADB, IMF, Nhật Bản, Mỹ… thường tiến hành nghiên cứu những ảnh hưởng, tác động của vốn ODA của họ tại các quốc gia tiếp nhận ODA.
Thể hiện qua các tài liệu: Asian Development Bank (2007), Guidelines for the economic Analysis of Projects, HaNoi, February 2007; Council on ODA reforms for the 21st Centery Final Report (2008) Internet; EAST ASIA: The Road to recovery (2008) - NXB the World Bank; Foreign Aid and the Composition of Public Spendeng - (1999) RRO679 - 76, project supervisor Vinaya Swaroop – Internet; World Bank (1999), 1999 World Development Indicator, pp.350; Thực trạng của viện trợ 1996 - 1997; Thực trạng của viện trợ 1998 - 1999; Thực trạng của viện trợ 2000; Aid reform in Africa (2001) của Ngân hàng Thế giới… Từ đó, họ đưa ra chình sách, đưa ra các khuyến cáo. Các nghiên cứu của các tổ chức, các chuyên gia quốc tế, vì dụ như: Tonny German and Judith Randel (1998), “Thực trạng của viện trợ 1997 - 1998 _ Một sự đánh giá độc lập về hợp tác phát triển”; Daniel Blais, Luc Picard (1997), Các thiết chế tài chình quốc tế và các nước đang phát triển; Chenery và Strout (1966) đã nghiên cứu tác động của viện trợ đối với phát triển kinh tế, tác giả nhấn mạnh vai trò và tầm quan trọng của nguồn vốn ODA, cho rằng hỗ trợ phát triển từ các nước giàu cho các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước nghèo, thu nhập thấp sẽ thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo, thông qua hỗ trợ một lượng vốn cần thiết để giúp các nước này có vai trò hết sức rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia để đạt mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. Helmut Fuhrer (1996) trong nghiên cứu “A history of the development assistance committee and the development co-operation directorate in dates, names and figures” đã đưa ra được khái niệm về nguồn vốn ODA của Tổ chức OECD trong đó nguồn vốn Hỗ trợ Phát triển chình thức (viết tắt là ODA) là nguồn vốn hỗ trợ để tăng cường phát triển kinh tế và xã hội của các nước đang phát triển với thành tố ưu đãi (grant) chiếm một khoảng xác định trong khoản tài trợ này. Nguồn ODA được phân biệt với các nguồn vốn đầu tư khác với hai đặc điểm chình: (i) Đây là khoản hỗ trợ phát triển chình thức; (ii) Được xác định bởi thành tố ưu đãi.
Từ hai yếu tố này giúp chúng ta xác định được nguồn vốn đầu tư đó có phải là nguồn vốn ODA hay không. Teboul và Moustier (2001) đã đưa ra đánh giá về ảnh hưởng tìch cực của viện trợ phát triển đối với trường hợp của các nước trong tiểu vùng Sahara châu Phi, trong đó tác động làm gia tăng tiết kiệm và tăng trưởng GDP, hỗ trợ cho sáu quốc gia đang phát triển trên biển Địa Trung Hải giai đoạn 1960-1966 trong quá trính phát triển của mình. Antonio Tujan Jr (2009), đã đưa ra đánh giá hiệu quả viện trợ và tổng kết một số bài học kinh nghiệm trong việc sử dụng viện trợ của Nhật Bản cho Philippines, trong đó khuyến nghị cần tăng cường hỗ trợ trực tiếp và nâng cao vai trò của các tổ chức xã hội 14 dân sự là hạt nhân quan trọng trong tiếp nhận và triển khai viện trợ, thực hiện các chương trính quan trọng của Philippines đặc biệt là chương trính xoá đói giảm nghèo; và khuyến nghị cần nâng cao hơn nữa quyền làm chủ và trách nhiệm của địa phương trong quản lý viện trợ và giảm dần sự phụ thuộc của họ vào nhà tài trợ. Các báo cáo của Ngân hàng thế giới và ADB về các chiến lược, bài học kinh nghiệm trong sử dụng viện trợ, đánh giá hiệu quả hiệu trợ, mối quan hệ giữa viện trợ và quyền lực, kinh nghiệm huy động vốn của khu vực kinh tế tư nhân đầu tư phát triển ở Châu Âu và khu vực Trung Á, viện trợ tại Đông Nam Á (đặc biệt là những nghiên cứu của Daniele Calabrese, David Dollar, Paul Mosley, Jame Harrigan, John Toye.