Chương 1 NHỮNG VẤN ĐẾ CƠ BẢN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC CHỐNG GIAN LẬN THƯƠNG MẠI QUA GIÁ TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU 1. Khái niệm và các phương thức, thủ đoạn gian lận thương mại, gian lận thương mại qua giá trong hoạt động nhập khẩu 1. Khái niệm gian lận thương mại, gian lận thương mại qua giá trong hoạt động nhập khẩu Gian lận thương mại là hành vi dối trá, mánh khóe, lừa lọc trong lĩnh vực thương mại thông qua hoạt động mua, bán, kinh doanh, xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích thu lợi bất chính. Mục đích của hành vi gian lận thương mại là nhằm thu lợi bất chính do thực hiện trót lọt hành vi lừa đảo, dối trá.
Gian lận thương mại là một hiện tượng trong xã hội mang tính lịch sử, xuất hiện khi xã hội loài người có giai cấp và phân công lao động trong hoạt động sản xuất, lưu thông và phân phối. Do vậy, khi tình trạng phát triển kinh tế không đồng nhất giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ, nhất là các quốc gia vùng lãnh thổ trong khu vực phát triển không đồng đều về sức sản xuất, nhu cầu tiêu dùng và giá cả, đặc biệt trong điều kiện toàn cầu hóa, trình độ, hiệu quả quản lý kinh tế - xã hội và áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ,… của các quốc gia ngày càng phát triển thì sự lệch về giá cả, chất lượng, sản phẩm, sự lưu thông hàng hóa trong khu vực và thế giới ngày càng tăng thì các nguyên nhân, điều kiện gian lận thương mại và tội phạm xuyên quốc gia ngày càng diễn biến phức tập, nhất là đối với lĩnh vực quản lý nhà nước về Hải quan. Theo định nghĩa của Tổ chức Hải quan thế giới, gian lận thương mại (trong 6 lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan) là những hành vi trái với qui định của pháp luật về hải quan nhằm mục đích: “trốn thuế đánh vào việc nhập khẩu hàng hoá; trốn tránh những quy định về hạn chế hay cấm đoán đối với hàng hoá nhập khẩu; thu nhận những khoản thoái chi bất hợp lý; thu nhận những lợi thế cạnh tranh không bình đẳng trong kinh doanh”. [11] Theo đó, gian lận thương mại qua giá trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan là hành vi khai báo gian dối giá trị thực của hàng hoá nhập khẩu nhằm trốn tránh những nghĩa vụ quy định cho hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đó.
Các phương thức, thủ đoạn gian lận thương mại, gian lận thương mại qua giá trong hoạt động nhập khẩu. Một số phương thức, thủ đoạn gian lận thương mại phổ biến trong hoạt động nhập khẩu Gọi là một số phương thức, thủ đoạn gian lận thương mại phổ biến bởi vì đây chỉ là những phương thức, thủ đoạn gian lận thương mại có tính chất chung phổ biến nhất xẩy ra trong thực tế đã bị cơ quan Hải quan phát hiện xử lý. Trên thực tế có rất nhiều phương thức, thủ đoạn gian lận thương mại khác đã và đang xảy ra ở dạng này hoặc dạng kia, ở vào đối tượng này hoặc đối tượng kia, ở thị trường này hoặc thị trường khác, thậm chí các cơ quan chức năng chưa phát hiện được nên không thể đưa ra nghiên cứu cùng một lúc được. Vì vậy, trên cơ sở những phương thức gian lận thương mại chủ yếu này có thể bổ sung thêm những trường hợp cụ thể làm sáng tỏ hành vi, thủ đoạn của gian lận thương mại.
Một số phương thức, thủ đoạn gian lận thương mại phổ biến như: - Gian lận thương mại do lợi dụng chính sách của pháp luật quy định cho hủy, sửa tờ khai (khai bổ sung) để đối phó với việc đánh giá rủi do, phân luồng trên hệ thống thông tin nghiệp vụ; né tránh việc kiểm tra kiểm soát của cơ qua Hải quan hoặc hợp thức hóa lô hàng vi phạm. - Gian lận về phân loại hàng hóa xuất, nhập khẩu như khai sai mã số, chủng loại hàng hóa để gian lận về thuế xuất nhập khẩu trốn tránh giấy phép, kiểm tra 7 chuyên ngành và né tránh các mặt hàng thuộc danh mục hàng hóa quản lý rủi ro. - Gian lận trong thực hiện chính sách quản lý chuyên ngành: Loại gian lận này, các đối tượng thường thực hiện các phương thức thủ đoạn là không khai hoặc khai sai tên, mã số, chủng loại, thành phần của hàng hóa thuộc các danh mục; khai sai mục đích sử dụng của hàng hóa nhập khẩu; Đục sửa số khung, số máy, model… của ô tô, máy móc thiết bị đã qua sử dụng… để hợp thức hóa việc nhập khẩu; sử dụng chứng từ không hợp pháp…. - Gian lận trong thực hiện chính sách, pháp luật về thuế: Như chây ì nộp thuế, không nộp thuế đúng thời hạn quy định; Khai sai hàng hóa thuộc diện miễn thuế, giảm thuế không chịu thuế; Kinh doanh “ma” đăng ký không trung thực trong kinh doanh, thành lập nhiều doanh nghiệp để nhập khẩu hàng hóa để lợi dụng chế độ ưu đãi về thời gian nộp thuế sau đó bỏ trốn chiếm đoạt tiền thuế; Lợi dụng chính sách ưu đãi để kê khai sai hoặc thổi phồng số tiền khẩu trừ thuế, hoàn thuế… - Lợi dụng chế độ quản lý hàng tạm nhập - tái xuất, hàng tạm xuất - tái nhập Hàng tạm nhập tái xuất, hàng tạm xuất tái nhập là những hàng hoá, vật phẩm tạm thời đưa vào trong nước một khoản thời gian nhất định sau đó phải tái xuất toàn bộ ra khỏi lãnh thổ và tạm thời đưa ra nước ngoài những hàng hoá, vật phẩm sau đó phải tái nhập trở lại toàn bộ.
Lợi dụng chế độ này các đối tượng đã tìm mọi thủ đoạn để gian lận thẩm lậu hàng hóa tiêu thụ trái phép trong nội địa; trốn thuế, trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát về giấy phép, tiêu chuẩn, điều kiện xuất nhập khẩu hàng hóa nhằm thu lợi bất chính. Phương thức thủ đoạn của loại hình gian lận này là người phạm tội khai sai tên hàng, số lượng để tạm nhập- tái xuất hàng thuộc diện cấm nhập, tạm ngừng nhập, hàng hóa tạm nhập tái xuất phải có giấy phép; Tạm nhập nhưng không tái xuất hàng hóa mà tự ý tiêu thụ nội địa, hàng hóa tái xuất qua các đường mòn, lối mở sau đó thẩm lậu trở lại Việt Nam; cố tạo ra các bộ hồ sơ giấy tờ cốt để hợp thức hoá số hàng hoá nhập khẩu và xuất khẩu trái phép. Có lúc người phạm tội còn cấu kết, móc ngoặc với một số cán bộ nhân viên trong cơ quan có thẩm quyền, hợp pháp hoá những hàng xuất nhập khẩu trái phép bằng con đường “tạm nhập - tái xuất” hoặc “tạm xuất- tái nhập” để tiêu thụ ngày trong nội địa hoặc bán ra nước ngoài. 8 - Lợi dụng chế độ sản xuất hàng gia công và nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu.
Các đối tượng gian lận thương mại thường nhập khẩu nguyên phụ liệu nhưng không dùng để sản xuất, chế biến sản phẩm mà tiêu thụ trong nội địa; Nhập nguyên phụ liệu đưa vào tiêu thụ nội địa và thay thế nguyên phụ liệu nội địa để sản xuất chế biến sản phẩm; Gian lận về định mức sử dụng, tiêu hao nguyên phụ liệu để gia công, sản xuất sản phẩm xuất khẩu nhằm làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn, không thu trong trường hợp đã thanh khoản đưa số dư thừa tiêu thụ trong nội địa. - Lợi dụng trong quản lý hàng hóa vận chuyển đang chịu sự giám sát hải quan: Lợi dụng chế độ chuyển khẩu và xuất nhập khẩu những hàng hoá thuộc lĩnh vực đặc biệt, vận chuyển hàng hóa đang chịu sự giám sát của hải quan không đúng tuyến đường và thời gian theo quy định; bốc rỡ, tẩu tán hàng hóa, tiêu thụ trái phép hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu chuyển cửa khẩu, hàng hóa quá cảnh trong quá trình vận chuyển chịu sự giám sát hải quan. - Xuất nhập khẩu ngoại tệ trái phép và khai khống ngoại tệ khi nhập cảnh Hành khách khi xuất cảnh, nhập cảnh có mang theo vàng, ngoại tệ và đồng Việt Nam có giá trị vượt định mức theo quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam thì phải khai báo phần vượt định mức đó. Riêng đối với vàng và ngoại tệ khi xuất cảnh, ngoài việc khai báo phần vượt phải còn phải có giấy phép mang ngoại tệ của Ngân hàng nhà nước Việt Nam hoặc được Ngân hàng nhà nước Việt Nam uỷ quyền cấp.
Nhưng trên thực tế nhiều trường hợp mang ngoại hối trái phép qua biên giới trốn tránh sự kiểm soát của cơ quan Hải quan hoặc khai báo gian lận số lượng, trọng lượng ngoại hối mang theo vì những động cơ bất chính. Thủ đoạn chủ yếu của các đối tượng ở loại hình gian lận này là giấu giếm, hoặc khai báo gian dối, không trung thực số lượng ngoại tệ mang theo lúc xuất cảnh hoặc nhập cảnh nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ phải chấp hành quy định của pháp luật Việt Nam đối với xuất nhập khẩu ngoại hối. - Xuất nhập khẩu hàng hoá bằng cota, giấy phép mua bán trái phép. Tổ chức, cá nhân được cấp côta, giấy phép xuất nhập khẩu hàng hoá đã nhượng bán cho tổ chức cá nhân khác để xuất nhập khẩu.
Thủ đoạn chủ yếu của loại 9 hình gian lận thương mại này là thiết lập những hợp đồng kinh tế giả tạo. Bên bán côta, giấy phép “uỷ thác” cho bên mua thực hiện xuất nhập khẩu theo nội dung của các côta giấy phép. Một số đối tượng khác đã dùng thủ đoạn liên doanh liên kết kinh tế để hợp thức hoá sử dụng côta giấy phép của nhau. - Lợi dụng cơ chế thành lập mới, tạm ngừng, ngừng hoạt động, giải thể, phá sản, làm dịch vụ để buôn lậu, gian lận thương mại.
các đối tượng thành lập các công ty giả để lấy danh nghĩa hoạt động kinh doanh trái phép và lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác hoặc lợi dụng việc nhà nước cho phép nợ thuế để xuất nhập khẩu hàng hoá chiếm đoạt số thuế phải nộp ngân sách nhà nước với lý do giả tạo giải thể hoặc phá sản có sự tính toán từ trước (các công ty thành lập và kinh doanh trong thời gian ngắn sau đó trốn doanh thu, trốn nghĩa vụ nộp thuế sau đó giải thể công ty để trốn các nghĩa vụ thanh toán) sau đó lại thành lập nên những công ty mới với thủ đoạn như cũ. Đây là một trong những loại hình gian lận thương mại khá phổ biến hiện nay trên thế giới và ở Việt Nam. Hành vi gian lận thương mại này là cố ý nhưng tính chất đặc biệt nghiêm trọng vì đối tượng thực hiện hành vi chuẩn bị rất kỹ.