CHƯƠNG 1 LÝ THUYẾT VỀ CHO VAY HỘ, SẢN PHẨM - DỊCH VỤ VÀ BÁN CHÉO SẢN PHẨM – DỊCH VỤ TRONG NGÂN HÀNG 1. LÝ THUYẾT VỀ HỘ VÀ CHO VAY HỘ 1. Khái quát về hộ 1. Khái niệm Hộ gia đình là một từ ngữ rất phổ biến, gần gũi và dễ hiểu đối với tất cả mọi người, tuy nhiên lại chưa có sự nhất quán trong việc định nghĩa về danh từ này.
Theo World Bank, hộ gia đình được định nghĩa là những người sống chung cùng một chỗ và xác nhận một chủ hộ chung, đồng thời cùng nhau làm việc hoặc cùng tạo ra thu nhập và thường xuyên cùng dùng bữa chung với nhau1. Theo UNSTAT, hộ gia đình là một nhóm gồm từ hai người trở lên cùng sống với nhau, cùng dự trữ chung lương thực hoặc các nhu yếu phẩm khác dùng cho sinh hoạt2. Ở Việt Nam, mà cụ thể trong phạm vi bài nghiên cứu này, người viết sử dụng định nghĩa hộ gia đình theo Điều 106 Bộ Luật Dân sự năm 2005, “hộ gia đình: các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác do pháp luật quy định, là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này”. Trong xã hội, hộ gia đình thường được ví như một đơn vị tế bào.
Trong nền kinh tế, mà cụ thể là kinh tế thị trường, hộ gia đình được xem là một đơn vị kinh tế trọng yếu, không chỉ có vai trò quan trọng trong việc cung ứng nguồn lao động mà còn có ý nghĩa quan trọng trong tổ chức sản xuất – kinh doanh. Mặt khác, khái niệm “hộ gia đình”, “hộ sản xuất” hay “kinh tế hộ” thường hay được dùng lẫn lộn, chưa có sự phân biệt cụ thể. 1 Do household definitions matter in survey design? Results from a randomized survey experiment in Mali, trang 1 2 United Nations Principles and Recommendations for Population and Housing Censuses, Sales No. Đặc điểm Hộ gia đình có khá nhiều đặc điểm.
Tuy nhiên, phạm vi của luận văn chỉ đề cập đến một số đặc điểm có liên quan, có tác động chi phối đến hoạt động cho vay hộ. Hộ gia đình thường ít thay đổi nơi cư trú và thường dựa trên quan hệ huyết thống. Ngoại trừ một vài trường hợp đặc biệt, các thành viên trong một gia đình đều có quan hệ huyết thống, phổ biến nhất là cha mẹ - con cái, rồi tới anh em, cháu chắt, dòng họ… Phần lớn hộ gia đình vẫn sinh sống và làm việc ở khu vực nông nghiệp, nông thôn, mặc dù trong thời gian gần đây tốc độ đô thị hóa tăng nhanh làm mở ra thêm nhiều thị trường lao động đã tác động mạnh lên làn sóng di cư từ nông thôn ra thành thị. Tại Việt Nam, theo số liệu kết quả điều tra toàn bộ của cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 được Tổng cục Thống kê công bố, dân cư ở khu vực thành thị khoảng 25.4 triệu người chỉ chiếm tỷ lệ 29.6% tổng dân số, trong khi đó dân số nông thôn là 60.4 triệu người chiếm đến 70.4% tổng dân số cả nước.
Đa số gia đình trên thế giới thuộc loại gia đình phụ quyền. Điều này được thể hiện qua tư tưởng “trọng nam, khinh nữ” trong xã hội trước đây, và ảnh hưởng đến tận bây giờ là đa số con cái truyền theo dòng bố và mang họ của bố. Tuy nhiên, do sự tiến bộ về bình đẳng giới ngày càng rõ nét, ngày nay tính chất phụ quyền nhiều khi chỉ còn mang tính đối ngoại, hình thức. Trong lãnh vực hoạt động sản xuất, kinh doanh: Hộ gia đình (trong trường hợp này là hộ sản xuất) là đơn vị kinh tế trọng yếu, tham gia nhiều ngành, nghề với nhiều kiểu tổ chức hoạt động đa dạng, phong phú, đóng góp quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế.
Trình độ sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình thường còn thấp về nhiều mặt như trình độ hiểu biết; trình độ tổ chức, quản lý, hạch toán; kỹ năng làm việc…; việc phân công lao động giữa các thành viên chủ yếu được dựa trên quan hệ tình cảm, bổn phận, phong tục tập quán, quan hệ họ hàng; đối với các ngành nghề truyền thống còn có thêm yếu tố gia truyền, gắn liền với dòng họ, địa phương. Do hệ quả từ sự phân bố dân cư tự nhiên cùng với việc chưa làm tốt công tác quy hoạch, sự phân chia tài nguyên đất đai riêng lẻ để sở hữu đã dẫn đến địa điểm tổ 3 chức sản xuất kinh doanh của hộ gia đình thường bị phân tán trên địa bàn rộng, quy mô sản xuất thường nhỏ lẻ, manh mún. Đây là nguyên nhân gây cản trở rất lớn đến việc hình thành các khu vực chuyên canh sản xuất nông sản có chất lượng, có giá trị hàng hóa cao, cũng như việc áp áp dụng các thành tựu tiến bộ mới của khoa học. Đối với hộ sản xuất nông nghiệp thuần túy, hoạt động sản xuất kinh doanh luôn phải đối mặt với những hạn chế, khó khăn của kinh tế nông nghiệp như sản xuất không ổn định, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên (thời tiết, đất đai thổ nhưỡng), mang nặng tính thời vụ (chu kỳ sinh trưởng, phát triển của cây, con)… Tình trạng chung hiện nay là các hộ sản xuất thường yếu về năng lực tài chính, muốn tiếp cận vốn ngân hàng để có nguồn đầu tư, mở rộng quy mô hoạt động nhưng lại gặp nhiều trở ngại về vấn đề bảo đảm tiền vay.
Tài sản thế chấp chủ yếu là quyền sử dụng đất, nhà nhưng đối với khu vực nông thôn thì tài sản này có giá trị không cao và tính thanh khoản cũng thấp. Thậm chí không hiếm những trường hợp tài sản không có giấy tờ hợp lệ do được chuyển dịch theo phong tục, tập quán và kiến thức pháp luật của người nông dân vẫn còn nhiều hạn chế. Nhằm thích nghi với nền kinh tế thị trường, khắc phục bớt những hạn chế vốn có, mô hình hoạt động của hộ sản xuất nông nghiệp hiện nay khá phong phú, đa dạng: trong một hộ gia đình đã có sự kết hợp giữa trồng trọt và chăn nuôi, chế biến thành phẩm và làm cả các dịch vụ khác. Đây là mô hình linh hoạt, dễ điều chỉnh để thích ứng với diễn biến nhu cầu của thị trường, phù hợp và khai thác hiệu quả được tiềm năng, nguồn lực lao động ở khu vực nông thôn.
Đối với ngân hàng, điều này giúp phân tán bớt rủi ro, giảm bớt tính thời vụ của các khoản vay do các hộ gia đình có được lợi nhuận ổn định từ nhiều nguồn thu nhập để trả nợ, trả lãi vay. Cho vay hộ 1. Khái niệm Cho vay hộ của ngân hàng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng thương mại đối với hộ gia đình, là hoạt động cấp vốn tín dụng cho các hộ gia đình của các ngân hàng thương mại. Hộ gia đình chỉ là một trong những đối tượng đầu tư vốn.
Và do vậy, khái niệm cho vay hộ hoàn toàn nhất quán với khái niệm cho vay của ngân hàng thương mại nói 4 chung, trong đó các nguyên tắc cơ bản, các thủ tục tín dụng phải được tuân thủ đầy đủ. Cho dù trong thực tế hiện nay, ở một số nước, chính phủ đang có những chính sách ưu tiên đối với kinh tế hộ, đặc biệt là hộ nông dân nhằm phát triển khu vực nông nghiệp, nông thôn (chẳng hạn như chính sách “tam nông” của Việt Nam), quan hệ tín dụng giữa ngân hàng thương mại và hộ gia đình vẫn là quan hệ vay – trả có mục đích, có lãi suất, có thời hạn hoàn trả theo sự thỏa thuận tự nguyện và đáp ứng được lợi ích kinh tế của cả hai bên. Đặc trưng Trên cơ sở các đặc điểm riêng của hộ gia đình, hoạt động cho vay hộ của ngân hàng thương mại cũng sẽ có những đặc trưng khác với các loại hình cấp tín dụng khác. Một là, xuất phát từ đặc điểm nội tại của hộ gia đình là rất lớn về số lượng, phân tán trên địa bàn rộng nhưng năng lực tài chính thường hạn chế, quy mô sản xuất kinh doanh không lớn, nhu cầu tiêu dùng cũng chỉ có giới hạn; mặt khác tài sản đảm bảo tiền vay có giá trị và tính thanh khoản thấp, đôi khi không đủ để thế chấp cho nhu cầu vốn vay cần thiết.
Điều này dẫn đến tình trạng số lượng khách hàng và số lượng món vay trong cho vay hộ phát sinh lớn nhưng giá trị của từng khoản vay lại nhỏ. Hệ quả là làm tăng khối lượng công việc cho cán bộ tín dụng, chi phí hoạt động của ngân hàng tăng nhưng hiệu quả lại giảm, khả năng xảy ra rủi ro cao. Hai là, cho vay hộ gia đình là loại hình tín dụng vừa đa dạng vừa giản đơn. Tính đa dạng: thể hiện qua sự khác nhau về mục đích, đối tượng và thời hạn cho vay.
Cùng là hộ gia đình nhưng mục đích vay có thể là tiêu dùng (mua sắm vật dụng, xe cộ, sửa chữa nhà ở), sản xuất (đầu tư nhà xưởng, đất đai, giống, phân, thuốc bảo vệ thực vật, thuê nhân công), kinh doanh (mua hàng hóa, trang thiết bị cửa hiệu, phương tiện vận tải) hoặc hỗn hợp nhiều mục đích. Cho vay hộ sản xuất ở mỗi vùng khác nhau thì có các loại cây, con, ngành nghề khác nhau. Ngay như cùng một loại cây, loại con nhưng thời hạn cho vay, thu nợ có khi cũng khác nhau tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên của từng vùng, điều kiện kinh tế và năng lực tài chính của từng hộ. Tính đa dạng còn được thể hiện qua sự phong phú về kênh chuyển tải vốn đến hộ gia đình: trực tiếp từ ngân hàng, gián tiếp thông qua các tổ chức đoàn thể, tổ vay vốn; 5 hình thức chuyển tải vốn có thể bằng tiền mặt, bằng chuyển khoản hay bằng chính hiện vật; có nhiều phương thức thu nợ, thu lãi… Tính giản đơn: cho vay lãnh vực tiêu dùng hay sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình tuy phong phú, đa dạng nhưng do tính chất đồng dạng, tính quy luật, tính chu kỳ lặp đi lặp lại mà ngân hàng có thể tính toán được suất đầu tư đối với từng mục đích vay vốn cụ thể.
Từ đó có thể làm đơn giản hóa quá trình tính toán, thiết lập bộ hồ sơ vay vốn, rút ngắn thời gian thẩm định khoản vay nhằm giảm bớt công việc cho cán bộ tín dụng.