Chương 1 - Một số van đề cơ bản về tin dụng bán lẻ tại NHTM. - Chương 2 - Thưc trạng hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Bắc Hưng Yên. - Chương 3 - Giải pháp phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Bắc Hưng Yên. SVTH: Vii Đức Nam 3 Lép:30A.TCDN Chuyên dé thực tập tốt nghiệp Viện Ngân hàng Tài chính CHUONG 1 MOT SO VAN DE CO BAN VE TIN DUNG BAN LE TAI NGAN HANG THUONG MAI Chương | trình bay kiến thức tong quan về NHTM và hoạt động tin dụng bán lẻ cùng vai trò quan trọng của nó trong hoạt động kinh doanh của một NHTM.
Từ đó xác định sự cần thiết cần phải đây mạnh phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ trong những chương tiếp theo. TONG QUAN VE NGÂN HÀNG THUONG MẠI 1. Khái niệm Lịch sử phát triển của hệ thống ngân hàng gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá và sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường đã làm biến đổi mạnh mẽ hệ thống ngân hàng thương mại từ những hệ thống ngân hàng giản đơn, sơ khai ban đầu trở thành những ngân hàng hiện đại. Khi mới ra đời, Ngân hàng thương mại hoạt động chủ yếu là cho vay đối với lĩnh vực thương mại nhưng ngày nay hoạt động của nó đã mang tính tổng hợp và đa năng.
Tuỳ thuộc vào đặc thù hoàn cảnh thực tẾ của từng quốc gia, từng đạo luật mà Khái niệm ngân hàng thương mại có thé được nhìn nhận dưới góc độ này hay góc độ khác. Theo luật pháp Hoa Kỳ, bat kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem như là một ngân hàng thương mại. Luật ngân hàng của An Độ 1950, được bổ sung 1959 đã nêu: “ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền gửi dé cho vay hay tài trợ, đầu tư”. Hay như nhà kinh tế học David Begg định nghĩa “Ngân hàng thương mai là trung gian tài chính có giấy phép kinh doanh của chính phủ dé cho vay tiền và mở các tài khoản tiền gửi”.
Theo khoản 1, điều 20 Luật sửa đổi, bố sung một số điều của luật các tô chức tin dụng của Việt Nam năm 2004 có nêu: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác”. SVTH: Vii Đức Nam 4 Lép:30A.TCDN Chuyên dé thực tập tốt nghiệp Viện Ngân hàng Tài chính Mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhưng phân tích, khai thác nội dung của các định nghĩa trên, người ta đễ nhận thấy các ngân hàng thương mại đều có chung các đặc trưng cơ bản: - Là một tô chức được phép nhận tiền gửi với trách nhiện hoàn trả. - Sử dụng tiền gửi của khách hàng đề cho vay, chiết khấu và đầu tư.
- Thực hiện các khoản thanh toán và các dịch vụ Ngân hàng cho khách hàng. Như vậy, có thê đưa ra một định nghĩa Khái quát về ngân hàng thương mại như sau: Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng, với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế quốc dân. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực tạo lập và cung cấp các dịch vụ tài chính, tiền tệ cho công chúng cũng như thực hiện nhiều vai trò khác trong nền kinh tế. Có thé chia các hoạt động cơ bản của ngân hang thương mại thành 03 nhóm hoạt động chính là: - Hoạt động huy động vốn.
- Hoạt động sử dụng vốn. - Hoạt động dịch vụ ngân hàng.1 Hoạt động huy động vốn Đây là hoạt động mang tinh chất tiền đề nhằm tạo lập nguồn vốn hoạt động của ngân hàng. Bởi vậy, để đảm bảo nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của minh, các ngân hàng thương mại có thé thực hiện các hoạt động huy động vốn từ hai bộ phận: vốn huy động từ tiền gửi và vốn huy động thông qua phát hành giấy tờ có giá. Vốn huy động từ tiền gửi bao gom các loại sau: - Tiên gửi thanh toán: Là loại tiền gửi mà người gửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào.
Do tính chất có thể rút ra bất cứ lúc nào nên dạng tiền gửi này thường chỉ được hưởng lãi suất rất thấp hoặc không được ngân hàng trả lãi. Mục đích của loại tiền gửi này là nhằm đảm bảo an toàn về tài sản và thực hiện các khoản chi trả trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng. Tài khoản được sử dụng cho loại tiền gửi thanh toán là tài khoản giao dịch hay còn gọi là tài khoản séc. Ưu điểm của tiền gửi không kỳ hạn là chi phí huy động thấp, sinh lời kê cả trong việc trực tiêp sử dụng cũng như sinh lời thông qua việc cung cap các SVTH: Vii Đức Nam 5 Lép:30A.TCDN Chuyên dé thực tập tốt nghiệp Viện Ngân hàng Tài chính sản phâm dich vụ nhưng có nhược điểm là tính ôn định không cao nên các ngân hàng thương mại thường phải thực hiện một mức dự trữ bắt buộc dé đảm bảo kha năng thanh toán.
- Tiên gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi mà người gửi chỉ được rút sau một thì hạn nhất định. Mức lãi suất của tiền gửi có kỳ hạn thường cao hơn tiền gửi thanh toán và mục đích chủ yêu của những người gửi tiền là dé lay lãi. Đối với ngân hàng đây là nguồn vốn 6n định trong kinh doanh. - Tiền gửi tiết kiệm: Tiền gửi tiết kiệm là nguồn vốn quan trọng và là hình thức huy động truyền thống của ngân hàng.
Đặc điểm của loại tiền gửi này là người gửi tiền được ngân hàng giao cho một số tiết kiệm, số này được coi như giấy chứng nhận có tiền gửi vào quỹ tiết kiệm của ngân hàng và trong thời gian gửi tiền số tiết kiệm có thể dùng làm vật cầm cô hoặc được chiết khấu dé vay vốn ngân hàng. - Tiên gửi khác: Ngoài các loại tiền gửi trên, tại các ngân hàng thương mại còn có các loại tiền gửi khác như: tiền gửi của các tô chức tín dụng khác, tiền gửi của Kho bạc nhà nước, tiền gửi của các tổ chức đoàn thé xã hội. Vốn huy động thông qua phát hành các giấy tờ có giá Đây là nguồn vốn mà các ngân hàng thương mại có được thông qua việc phát hành các giấy tờ có giá như kỳ phiếu ngân hàng, trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi. Các kỳ phiếu, trái phiếu này có khả năng chuyền đổi dễ dàng ra tiền khi cần thiết bằng các mua bán chuyên nhượng trên thị trường vốn hoặc chiết khấu tại ngân hàng.
Với cách huy động vốn này, ngân hàng có khả năng tập trung một lượng vốn lớn trong thời gian ngắn và hoàn toàn chủ động sử dụng. Tuy nhiên, việc này chỉ được thực hiện sau khi đã tiến hành lên cân đối toàn hệ thống giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, xác định thấy khả năng nguồn vốn toàn hệ thống không đủ đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn và sau khi được sự chấp thuận của ngân hàng nhà nước. Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ vốn kinh doanh của ngân hàng thương mại. Đây là nguồn vốn có ảnh hưởng rất lớn đến chi phí và khả năng mở rộng kinh doanh của ngân hàng.
Nguồn vốn này có xu hướng ngày càng gia tăng phù hợp với xu hướng tăng trưởng và ôn định của nền kinh tế, việc cải tiến và nâng cao chất lượng dịch vụ của ngân hàng, với việc gia tăng nhu câu thanh toán của dân cư. SVTH: Vii Đức Nam 6 Lép:30A.TCDN Chuyên dé thực tập tốt nghiệp Viện Ngân hàng Tài chính 1.2 Hoạt động sử dụng vốn Hoạt động sử dụng vốn là hoạt động đem lại nguồn thu cho ngân hang và bù đắp các chi phí trong hoạt động. Ngân hàng thường sử dụng nguồn vốn vào các hoạt động kinh doanh chủ yếu sau: Hoạt động cho vay Cho vay là một mặt của hoạt động tín dụng ngân hàng, là việc ngân hàng thương mại cho khách hàng vay một số tiền dé họ sử dụng trong một thời gian nhất định và khi hết hạn vay, người vay phải hoàn trả ngân hàng một khoản tiền bao gồm cả gốc và lãi. Hoạt động cho vay hiện nay vẫn là một trong những hoạt động cơ bản, truyền thống và đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động tạo ra thu nhập của ngân hàng thương mại.
Tuy nhiên hoạt động này cũng chứa đựng rất nhiều rủi ro (rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro chính trị và rủi ro đạo đức), khi những rủi ro này xảy ra sẽ gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động của ngân hàng. Nghiệp vụ cho vay có thê được phân loại theo các tiêu thức khác nhau như: + Theo thời hạn cho vay: gồm có cho vay ngắn hạn, trung hạn và đài hạn. + Theo hình thức đảm bảo tiền vay: gồm cho vay có đảm bảo và cho vay không có đảm bảo + Theo ngành kinh tế: gồm có cho vay nông nghiệp, công nghiệp, thương mại. + Theo đặc điểm luân chuyên vốn: gồm có cho vay bổ sung vốn lưu động và cho vay hình thành tài sản cô định.
+ Theo các cách phân loại khác: theo rủi ro, theo mục đích sử dụng vốn vay, lãi suất cho vay. Hoạt động đầu tư Là khoản mục quan trọng thứ hai sau khoản mục cho vay. Để đa dạng hóa việc sử dụng nguồn vốn, giảm rủi ro trong hoạt động, tăng thu nhập và hỗ trợ thanh khoản khi cần thiết, ngoài hoạt động cho vay các ngân hàng thương mại còn thực hiện các hoạt động đầu tư như: hoạt động đầu tư gián tiếp (các hoạt động đầu tư trên thị trường chứng khoán thông qua việc mua bán các chứng khoán do chính phủ, côg ty phát hành), hoặc các hoạt động đầu tư trực tiếp (góp vôn vào các doanh nghiệp, các công ty tài chính.) SVTH: Vii Đức Nam 7 Lép:30A.TCDN Chuyên dé thực tập tốt nghiệp Viện Ngân hàng Tài chính 1.