Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tác động của thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả hoạt động của NHTM Đưa ra các lý thuyết liên quan đến TNNL, các yếu tố tác động đến TNNL và tác động TNNL đến HQHĐ của NHTM và các nghiên cứu đã được thực hiện để hình thành mô hình nghiên cứu và các giả thiết nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu tác động của thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Nêu lên trình tự các bước và phương pháp thực hiện nghiên cứu về tác động của TNNL đến HQHĐ của các NHTM. Ước tính số lượng mẫu cần thu thập, xây dựng mô 7 hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu liên quan.
Chương 3 cũng trình bày cách thức đo lường các biến và nguồn khai thác dữ liệu nghiên cứu của luận án. Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm về tác động của thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả hoạt động của NHTM và các yếu tố ảnh hưởng đến TNNL. Trên cơ sở dữ liệu của 32 NHTM Việt Nam và mô hình nghiên cứu, luận án sử dụng Stata17.0 để ước lượng các hệ số hồi quy của các biến trong mô hình và thực hiện các kiểm định liên quan. Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm về tác động của thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả hoạt động của NHTM và các yếu tố ảnh huởng đến TNNL.
Trên cơ sở đó, luận án tiến hành thảo luận với các nghiên cứu trước để chấp nhận hay bác bỏ các giả thuyết nghiên cứu để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu của luận án. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Luận án tóm tắt các kết quả nghiên cứu và đưa ra các hàm ý chính sách để nâng cao TNNL nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định, bền vững và HQHĐ của các NHTM Việt Nam. Đồng thời, Chương 5 trình bày những hạn chế mà luận án chưa giải quyết được và hướng nghiên cứu tiếp theo. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA THU NHẬP NGOÀI LÃI ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Trong chương 2, tác giả sẽ trình bày cơ sở lý thuyết phục vụ cho đề tài bao gồm các lý thuyết liên quan đến hiệu quả hoạt động của NHTM, TNNL, các yếu tố ảnh hưởng đến TNNL và tác động của TNNL đến HQHĐ của NHTM.
Bên cạnh đó, tác giả cũng tiến hành lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan làm cơ sở cho việc phát triển đề tài. Tổng quan về hiệu quả hoạt động của ngân hàng 2. Khái niệm Farrell (1957) cho rằng hiệu quả thể hiện mối tương quan giữa các biến số đầu ra thu được so với các biến số đầu vào đã được sử dụng để tạo ra những đầu ra đó. Trong tất cả các lĩnh vực kinh tế trong nước hay trên thế giới đều luôn đề cập và đặt hiệu quả lên hàng đầu.
Khi nói đến hiệu quả thì hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rất rộng, không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà còn ở lĩnh vực kỹ thuật, xã hội. Đề cập đến hiệu quả, cần phải phân biệt được hiệu quả với kết quả. Hiệu quả là một tỷ số thể hiện sự so sánh kết quả đầu ra với yếu tố nguồn lực đầu vào. Kết quả đầu ra thường biểu hiện bằng doanh thu, lợi nhuận.
Yếu tố đầu vào là những nguồn lực như lao động, chi phí, tài sản và nguồn vốn. Theo Nguyễn Khắc Minh (2004), “Hiệu quả - efficiency” trong kinh tế là “mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hoá và dịch vụ” và “khái niệm hiệu quả được dùng để xem xét các tài nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào”. Hiệu quả biểu hiện mối quan hệ tương quan giữa kết quả thu được và toàn bộ chi phí bỏ ra để có kết quả đó, phản ánh hoạt động kinh tế đó có chất lượng hay không, độ chênh lệch dương giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao (Ngô Đình Giao, 1997). Theo Antonio, Ludger và Vito (2006) thì “Hiệu quả là phép so sánh giữa đầu vào và đầu ra hay giữa lợi nhuận và chi phí.
Với cùng đầu vào cho trước, hoạt động nào tạo ra đầu ra lớn hơn sẽ là hoạt động hiệu quả hơn”. Vì vậy, đo lường hiệu quả của các NHTM thì mục tiêu của họ là tối đa hoá lợi nhuận với mức độ rủi ro là thấp nhất có thể, đó là những NHTM hoạt động kinh doanh với hiệu quả cao. HQHĐ của NHTM còn có thể được hiểu là khả năng biến đổi các đầu vào thành các đầu ra hay khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác (Lý 9 thuyết hệ thống). Một cách diễn đạt khác Berger và Mester (1997) phát biểu rằng HQHĐ của các NHTM thể hiện ở mối quan hệ giữa doanh thu và chi phí sử dụng các nguồn lực hay chính là khả năng biến các nguồn lực đầu vào thành các đầu ra tốt nhất trong hoạt động kinh doanh.
Từ những dẫn chứng nêu trên, chúng ta có thể hiểu về HQHĐ của NHTM theo 3 hướng như sau: Thứ nhất là, tối thiểu hóa chi phí, tức là sử dụng ít nhất các yếu tố đầu vào như vốn, cơ sở vật chất, lao động… để tạo ra đầu ra như trước; thứ hai là, giữ nguyên đầu vào nhưng tạo ra lượng đầu ra nhiều hơn; thứ ba là, sử dụng nhiều yếu tố đầu vào hơn nhưng lượng đầu ra được tạo ra tăng nhanh hơn so với tốc độ tăng đầu vào. Trong phạm vi bài viết này, Các NHTM được coi là hoạt động hiệu quả nếu nó đạt đến mức tối đa về kết quả đầu ra trong điều kiện sử dụng tối ưu các yếu tố đầu vào cho trước. Cách thức đo lường Về cách thức đo lường thì theo Berger và Humphrey (1997), Heffernan và Fu (2008), thường sử dụng hai phương pháp chính để phân tích HQHĐ của NHTM là: phương pháp sử dụng các chỉ số tài chính và phương pháp phân tích hiệu quả biên. Phương pháp sử dụng các chỉ số tài chính Chỉ số tài chính của doanh nghiệp là những con số được tính toán bằng tỉ lệ của một số liệu tài chính hoặc kinh doanh này so với một số liệu khác.
Các chỉ số tài chính là công cụ được sử dụng phổ biến nhất trong đánh giá, phân tích và phản ánh HQHĐ kinh doanh của các NHTM. Mỗi chỉ số tài chính cho biết mối quan hệ giữa hai biến số tài chính khác qua đó cho phép phân tích và so sánh giữa các chi nhánh, các ngân hàng và phân tích xu hướng biến động của các biến số này theo thời gian. Có nhiều loại chỉ số tài chính được sử dụng để đánh giá các khía cạnh hoạt động khác nhau của một ngân hàng. Các chỉ số tài chính này bao gồm các tỷ số phản ánh khả năng sinh lợi, các tỷ số phản ánh HQHĐ kinh doanh và các tỷ số phản ánh rủi ro tài chính của một ngân hàng.
Nhóm chỉ số phản ánh khả năng sinh lời: Ở nhóm chỉ số khả năng sinh lời thì có chỉ số sinh lời so với doanh thu và chỉ số sinh lời so với vốn. Chỉ số sinh lời so với doanh thu phản ánh một đồng doanh thu của ngân hàng kiếm về được thì lợi nhuận chiếm bao nhiêu phần trăm, phần trăm đối lập ngược lại có thể suy luận đó là chi phí. Vậy ngân hàng có quản lý tốt về các khoản chi phí để có được phần lợi nhuận tăng lên qua các kỳ 10 kinh doanh trong doanh thu ngân hàng hay không thể hiện thông qua chỉ số sinh lời so với doanh thu tăng lên. Còn tỷ số sinh lời so với vốn, phản ánh một đồng vốn bỏ ra có được bao nhiêu đồng lợi nhuận, nói cụ thể hơn chỉ số này đo lường giữa thu nhập hoặc lợi nhuận thu về được so với số vốn bỏ ra, tùy thuộc và quan điểm so sánh mà nó so sánh với chi phí sử dụng vốn hoặc mức sinh lời kỳ vọng của người có vốn,… để đánh giá tính hiệu quả của một đồng vốn kinh doanh.
Trong bài viết này, tác giả đề cập đến suất sinh lời trên vốn. Theo thông lệ quốc tế, hiệu quả sinh lời thường được phản ánh thông qua các chỉ số tài chính sau: lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA) và lợi nhuận ròng trên tổng vốn chủ sở hữu (ROE), thu lãi biên ròng (NIM), thu ngoài lãi biên ròng (NOM), thu nhập hoạt động biên (TNHĐB), hệ số thu nhập trên cổ phiếu (EPS). Nhóm các chỉ tiêu phản ánh HQHĐ kinh doanh: Với chiến lược tối đa hóa lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của bất kỳ một doanh nghiệp kinh doanh nào và các NHTM cũng không ngoại lệ. Các NHTM thường nâng cao HQHĐ kinh doanh của mình bằng cách giảm chi phí hoạt động, tăng năng suất lao động trên cơ sở tự động hóa và nâng cao trình độ nhân viên.
Bởi vậy, các thước đo phản ánh tính hiệu quả trong hoạt động của ngân hàng và năng suất lao động của nhân viên gồm các chỉ tiêu sau: Tổng chi phí hoạt động so với tổng thu từ hoạt động, Năng suất lao động (Thu nhập hoạt động so với Số nhân viên làm việc đầy đủ thời gian), Tổng thu hoạt động so với tổng tài sản bình quân. Nhóm chỉ tiêu phản ánh rủi ro tài chính: Đi đôi với lợi nhuận thì rủi ro là điều không thể tránh khỏi trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. Các nhà quản trị trong NHTM, ngoài việc quan tâm đến việc nâng cao giá trị cổ phiếu và đẩy mạnh khả năng sinh lời, thông thường trong hoạt động của mình họ còn thực hiện việc kiểm soát chặt chẽ những rủi ro mà họ phải đối mặt như là: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro phá sản và rủi ro thu nhập. Từ trước đến nay, các chỉ số tài chính vẫn được sử dụng khá phổ biến trong phân tích hoạt động kinh doanh của các NHTM vì chúng khá đơn giản và tương đối dễ hiểu.
Tuy nhiên, chính mức độ đơn giản của nó có thể trở thành vấn đề khá phức tạp nếu các nhà quản lý cố gắng đưa ra một bức tranh tổng thể khi kết hợp nhiều mặt, nhiều khía cạnh hoạt động khác nhau của ngân hàng dựa trên phân tích các tỷ số tài chính.