mở đầu cho chặng đường phát triển mới ngày càng lớn mạnh của hệ thống tín dụng phục vụ đắc lực cho quá trình tiến bộ xã hội. Quan hệ tín dụng mới này được gọi là tín dụng thương mại. Đây là quan hệ tín dụng giữa các nhà tư bản trực tiếp kinh doanh, mua bán chịu hàng hóa với nhau. Việc mua bán chịu hàng hóa giữa các nhà tư bản có nghĩa là nhà tư bản này đã cho nhà tư bản kia vay một lượng giá trị tư bản chứa đựng trong hàng hóa đó, cũng giống như cho vay bằng tiền tệ.
Bởi vậy, người cho vay đòi hỏi phải được trả lợi tức. Giá hàng hóa bán chịu phải cao hơn giá hàng hóa trả tiền ngay, trong đó đã bao gồm một khoản lợi tức nhất định. Tuy nhiên mục đích của việc bán chịu trong tín dụng thương mại không phải để thu lợi tức mà chủ yếu là để thực hiện giá trị của hàng hóa. Sự ra đời của tín dụng thương mại bắt nguồn từ tính tất yếu khách quan của quá trình tái sản xuất.
Do chu kỳ sản xuất và luân chuyển vốn của các nhà tư bản thường có sự tách biệt nhất định, từ đó sẽ dẫn tới hiện tượng trong cùng một thời điểm, một số nhà tư bản đang có sẵn một lượng hàng cần bán, một số nhà tư bản khác lại đang cần mua những hàng hóa ấy, nhưng do chưa tiêu thụ được hàng hóa của mình nên không có đủ tiền mặt để thanh toán ngay. Trong trường hợp này, trên cơ sở quen biết, tín nhiệm nhau họ có thể thỏa thuận một quan hệ vay mượn. Như vậy, người bán có thể giải quyết nhanh lượng hàng của mình, giảm bớt chi phí bảo 123doc 14 quản hàng hóa. Ngược lại, người mua mặc dù chưa đủ tiền nhưng vẫn có được hàng hóa đưa vào chu kỳ sản xuất mới.
Trong tín dụng thương mại, tiền chỉ là phương tiện thanh toán, nghĩa là hàng hóa được bán không lấy tiền ngay mà lấy một tờ khế ước hẹn đến một kỳ hạn nào đó sẽ trả tiền. Để cho đơn giản, tất cả các khế ước đó được gọi chung một loại là kỳ phiếu, khi chưa đến kỳ hạn thanh toán có thể dùng để mua hàng hóa, thanh toán các khoản nợ bằng cách sang tên kỳ phiếu. Khi cần thiết, người chủ kỳ phiếu có thể đến ngân hàng thực hiện việc chiết khấu kỳ phiếu để lấy tiền mặt trước thời hạn. Khi đến hạn thanh toán, ngân hàng sẽ thu nợ ở người thụ lệnh.
Ngân hàng có thể dùng kỳ phiếu đó để cho vay hoặc dựa vào đó để phát hành giấy bạc ngân hàng. Như vậy, kỳ phiếu thương mại có thể dùng như tiền tệ trong chức năng phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán. Tín dụng thương mại, lưu thông kỳ phiếu tạo điều kiện cho lưu thông hàng hóa, cho sự vận động và phát triển của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Mỗi nhà tư bản trong quan hệ tín dụng thương mại vừa là người cho vay vừa là người đi vay.
Sự vận động của tín dụng thương mại gắn liền với sự vận động của hàng hóa, vì đối tượng của tín dụng thương mại là hàng hóa. Mặc dù tín dụng thương mại có thể được thực hiện nhanh chóng, đáp ứng kịp thời nhu cầu tiêu thụ hàng hóa, đẩy nhanh vòng quay vốn và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Nhưng nó chỉ được thực hiện giữa các doanh nghiệp quen biết, tín nhiệm lẫn nhau; quy mô tín dụng bị giới hạn trong khả năng vốn hàng hóa mà họ có; cũng như điều kiện kinh doanh và chu kỳ sản xuất giữa người mua và người bán không phù hợp. Do đó, khi quy mô của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được mở rộng hơn đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn hơn thì tín dụng thương mại không đáp ứng được đầy đủ nhu cầu vốn.
Khi đó, tại các nước tư bản, ngân hàng tư bản được thành lập dựa trên cơ sở các hàng vàng và các thương nhân chuyên buôn tiền đúc. Các ngân hàng này ngày càng phát triển mạnh mẽ và cho ra đời một quan hệ tín dụng mới là 123doc 15 tín dụng ngân hàng. Loại hình tín dụng này đã khắc phục được những hạn chế của tín dụng thương mại, tạo điều kiện làm cho nguồn vốn trong nền kinh tế được tận dụng triệt để hơn. Tín dụng ngân hàng là sự giao dịch về tài sản, trong đó ngân hàng cho vay đối với các chủ thể cần vốn trong nền kinh tế.
Các chủ thể này cam kết hoàn trả vốn và lãi cho ngân hàng theo đúng thời hạn đã thỏa thuận. Đây là mối quan hệ giữa các ngân hàng với các tổ chức và cá nhân. Để thực hiện được quan hệ này, ngân hàng phải đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay lại (cấp tín dụng). Giai đoạn từ cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 20: Lúc này, cơ chế thị trường đã phát triển vượt bậc ở các nước tư bản, và mối quan hệ giao lưu mua bán hàng hóa giữa các nước được mở rộng, tín dụng ngân hàng càng phát huy tác dụng và ngày càng đa dạng về hình thức, từ cho vay để sản xuất kinh doanh trong nước thuần túy đến việc cho vay sản xuất và xuất khẩu, chiết khấu chứng từ, nhập khẩu hàng hóa.
Tuy nhiên, cơ chế thị trường dù phát triển đến đâu cũng bộc lộ nhiều nhược điểm (sự phân hóa giàu nghèo, ô nhiễm môi trường, tính chu kỳ trong phát triển kinh tế…). Do đó, đòi hỏi phải có sự điều tiết của Nhà nước và mô hình kinh tế hỗn hợp ngày càng chiếm ưu thế ở các nước. Lúc này, một loại tín dụng mới ra đời đó là tín dụng nhà nước. Đây là hoạt động vay trả giữa Nhà nước và các chủ thể trong nền kinh tế.
Khác với các loại hình tín dụng khác, tín dụng nhà nước không phục vụ các đối tượng kinh tế đơn thuần mà nhằm vào các đối tượng vừa có tính chất kinh tế, vừa có tính chất xã hội để thực hiện vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô của nhà nước trong từng thời kỳ. Trong giai đoạn đầu, tín dụng nhà nước chủ yếu là các loại tín dụng phi kinh tế, nhằm phục vụ mục đích chi tiêu của nhà nước nên hầu như có tính cưỡng chế. Khi tín dụng nhà nước chuyển từ chi tiêu sang đầu tư dưới dạng cho vay có hoàn trả, tính kinh tế của hoạt động tín dụng nhà nước mới xuất hiện. Công cụ của tín dụng nhà nước là trái phiếu.
Có nhiều loại trái phiếu. Nếu căn cứ vào thời hạn, trái phiếu có 3 loại là ngắn hạn (thời hạn < 1 năm), trung hạn (từ 1 123doc 16 đến 3 năm), dài hạn (thời hạn > 3 năm). Nếu căn cứ vào phương thức trả lãi, người ta phân thành trái phiếu trả lãi định kỳ và trái phiếu trả lãi cuối kỳ… 1. Giai đoạn từ đầu thế kỷ 20 đến nay: Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, các hình thức thức dụng cũng không ngừng phát triển góp phần tập trung được nguồn vốn cần thiết cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Bên cạnh tín dụng thương mại truyền thống, tín dụng ngân hàng với nhiều hình thức đa dạng (về mục đích sử dụng vốn, về thời hạn cho vay, về phương thức hoàn trả.) đã đáp ứng đầy đủ nhu cầu của các chủ thể trong nền kinh tế. Đối với các lĩnh vực mà loại tín dụng vì mục tiêu lợi nhuận không thực hiện được do hiệu quả thấp hoặc yêu cầu vốn lớn để giải quyết các vấn đề xã hội, quốc phòng thì tín dụng nhà nước đảm nhiệm. Trong điều kiện thị trường vốn các nước được quốc tế hóa, nhà nước còn có thể phát hành các loại trái phiếu quốc tế nhằm huy động vốn ngoại tệ ở nước ngoài. Cũng trong giai đoạn này, khi xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng xâu rộng thì quan hệ tín dụng quốc tế ra đời.
Đây là mối quan hệ tín dụng giữa các chính phủ, hoặc các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế, nhằm giúp đỡ lẫn nhau để phát triển kinh tế xã hội của một nước hoặc giải quyết những vấn đề kinh tế xã hội theo thỏa thuận của các nước thành viên. Trong nền kinh tế hiện đại ngày nay cùng với yêu cầu khách quan của các lĩnh vực từ sản xuất – lưu thông – tiêu dùng cá nhân. Hệ thống tín dụng cũng mở rộng về phạm vi hoạt động và đa dạng về hình thức cho vay. Từ đó, tín dụng đã và đang phát triển như một bộ phận không thể thiếu được trong quá trình phát triển của nền kinh tế.
Nói tóm lại, tín dụng ra đời và phát triển là một tất yếu khách quan đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế - xã hội. Cùng với sự vận động của nền kinh tế, các loại hình tín dụng khác nhau lần lượt ra đời nhằm thực hiện tốt hơn chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ trên cơ sở có hoàn trả, từ đó kiểm soát các hoạt động kinh tế. Tất 123doc 17 cả các loại hình tín dụng, từ tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng đến tín dụng nhà nước và tín dụng quốc tế đều đang tồn tại trong nền kinh tế. Mỗi loại hình tín dụng phục vụ cho một nhóm chủ thể riêng nhưng đều đi đến một mục đích chung là thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế - xã hội.
Phạm vi đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu về tín dụng ngân hàng và biện pháp nâng cao chất lượng của hoạt động tín dụng ngân hàng.2 CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG : 1.1- Khái niệm chất lượng hoạt động tín dụng : Trước khi tìm hiểu về chất lượng hoạt động tín dụng, hãy tìm hiểu về phạm trù “chất lượng”. Trong bất kỳ nền kinh tế cạnh tranh nào, doanh nghiệp muốn đứng vững trong hoạt động kinh doanh thì việc cải thiện chất lượng là điều tất yếu. Trong ba yếu tố: chất lượng, giá cả, số lượng thì chất lượng là yếu tố quan trọng nhất, góp phần giữ vững uy tín cho chủ doanh nghiệp và tạo điều kiện nâng cao khả năng chiếm lĩnh thị trường. Phạm trù chất lượng được nhiều tác giả nói đến bằng nhiều cách khác nhau.
Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông: Chất lượng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc) làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác.