Phần mở đầu, Kết luận chung, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được trình bày theo kết cấu 03 (ba) chương, cụ thể như sau: Chƣơng 1: Tổng quan về hệ thống xếp hạng tín dụng khách hàng doanh nghiệp trong hoạt động ngân hàng. Chƣơng 2: Thực trạng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam. Chƣơng 3: Hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam. Đóng góp của đề tài Nghiên cứu phân tích được thực trạng của hệ thống XHTD nội bộ KHDN tại VCB để tìm ra những mặt đạt được, các hạn chế còn tồn tại, nguyên nhân của những hạn chế còn tồn tại và đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống XHTD nội bộ KHDN tại VCB góp phần phản ánh chính xác hơn về khách hàng để có quyết định cấp tín dụng và kiểm soát, giảm thiểu được rủi ro.
5 Nghiên cứu có thể được áp dụng vào thực tiễn, có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho Ban Lãnh đạo VCB trong công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống XHTD nội bộ KHDN nhằm phù hợp với chính sách khách hàng, chiến lược kinh doanh của VCB trong từng thời kỳ mà vẫn đảm bảo việc quản trị rủi ro tín dụng. Đồng thời, nghiên cứu cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những học viên cao học hoặc những nhà nghiên cứu những đề tài có liên quan. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu để thực hiện luận văn, tác giả nhận thấy rằng nội dung nghiên cứu có liên quan đến XHTD doanh nghiệp, hệ thống XHTD nội bộ KHDN không phải là một đề tài quá mới đối với hệ thống tài chính ngân hàng nói chung và một luận văn thạc sĩ nói riêng. Một số nghiên cứu tác giả tham khảo như: Nguyễn Trọng Hòa, 2009, Luận án Tiến sỹ “Xây dựng mô hình XHTD đối với các DN Việt Nam trong nền kinh tế chuyển đổi”.
Luận án đã hệ thống hóa về lý luận và thực tiễn của XHTD, luận án vận dụng và phân tích đánh giá các kết quả đã được nghiên cứu trước đây cũng như thực trạng ở Việt Nam hiện nay, từ đó tìm ra những bất cập của XHTD và nguyên nhân của bất cập đó, để đề xuất quy trình xây dựng mô hình XHTD các doanh nghiệp Việt Nam, đưa ra các giải pháp nhằm đổi mới phương pháp, nhận thức tầm quan trọng XHTD của doanh nghiệp. Trần Thị Kỳ, 2003, Luận án Tiến sỹ “Hoàn thiện xếp hạng tín nhiệm các doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng thương mại Việt Nam”. Luận án nghiên cứu những vấn đề cơ bản về xếp hạng tín nhiệm các doanh nghiệp vay vốn tại NHTM, thực trạng xếp hạng các DN vay vốn và một số giải pháp hoàn thiện xếp hạng tín nhiệm. Phan Anh, 2012, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế “Hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ đối với Doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam”.
Luận văn hệ thống hóa về những vấn đề lý thuyết về rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng và hệ thống XHTD nội bộ của NHTM; đánh giá thực trạng hoạt động và thực trạng hệ thống XHTD nội bộ KHDN của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam từ đó rút ra những thành tích, 6 hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại đó, qua đó đề xuất một hệ thống giải pháp có tính khả thi cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam để hoàn thiện hệ thống XHTD nội bộ KHDN. Trên cơ sở tiếp cận và kế thừa các công trình nghiên cứu của các tác giả đã nghiên cứu trước đây, tác giả hướng đến việc hoàn thiện hệ thống XHTD nội bộ KHDN tại VCB nhằm xây dựng một hệ thống chuẩn mực trong việc đánh giá xếp hạng khách hàng phù hợp với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam và đáp ứng quản trị theo các thông lệ quốc tế nhằm có kết quả XHTD phù hợp và dự báo chính xác đối với khách hàng nhằm đưa ra quyết định cấp tín dụng phù hợp, góp phần nâng cao chất lượng tín dụng tại VCB và kiểm soát, giảm thiểu rủi ro. 7 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG 1. Hệ thống xếp hạng tín dụng khách hàng doanh nghiệp 1.
Khái niệm về hệ thống xếp hạng tín dụng khách hàng doanh nghiệp Credit ratings là thuật ngữ do John Moody đưa ra năm 1909 trong cuốn “Cẩm nang chứng khoán đường sắt” khi tiến hành nghiên cứu, phân tích và công bố bảng xếp hạng tín nhiệm lần đầu cho 1.500 loại trái phiếu của 250 Công ty, theo một hệ thống ký hiệu gồm 03 chữ cái A, B, C được xếp lần lượt từ AAA đến C (hiện nay những ký hiệu này đã trở thành chuẩn mực quốc tế). Tại Việt Nam, thuật ngữ Credit ratings đang tồn tại với nhiều tên gọi như: xếp hạng tín dụng, xếp hạng tín nhiệm, xếp hạng khách hàng, định dạng khách hàng,. Hiện có một số quan điểm cho rằng, XHTD doanh nghiệp là đánh giá về khả năng thanh toán cho một khoản nợ nhất định của doanh nghiệp, còn xếp hạng tín nhiệm là đánh giá tổng quan về các yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp như: môi trường của doanh nghiệp, sản phẩm và thị trường, quản trị, tình hình tài chính,. Nếu một doanh nghiệp có tình hình tài chính ổn định, sản phẩm và thị trường thuận lợi, quản trị doanh nghiệp hiệu quả cũng như có triển vọng phát triển trong tương lai thì có thể cho rằng doanh nghiệp có khả năng và sẵn sàng trả nợ cả gốc, lãi đúng hạn theo các quy định và sẽ được xếp hạng tín nhiệm cao.
Đồng thời căn cứ vào xếp hạng tín nhiệm này, các ngân hàng sẽ sẵn sàng ra quyết định cấp tín dụng, các nhà đầu tư sẽ an tâm, tin tưởng và dễ dàng lựa chọn cổ phiếu của doanh nghiệp để đầu tư. Trong luận văn này tác giả dùng thuật ngữ “xếp hạng tín dụng”. Theo công ty chứng khoán Merrill Lynch, xếp hạng tín dụng là đánh giá hiện thời về chất lượng tín dụng được xem xét trong hoàn cảnh hướng về tương lai, phản ánh sự sẵn sàng và khả năng nhà phát hành có thể thanh toán gốc và lãi đúng hạn. Trong kết quả xếp hạng tín dụng chứa đựng cả ý kiến chủ quan của chuyên gia xếp hạng tín dụng (Nguyễn Trọng Hòa 2009, trang 7).
8 Theo Moody’s, xếp hạng tín dụng là ý kiến về khả năng và sự sẵn sàng của một nhà phát hành trong việc thanh toán đúng hạn cho một khoản nợ nhất định trong suốt thời gian tồn tại của khoản nợ đó (Nguyễn Trọng Hòa 2009, trang 8). Qua những cách định nghĩa trên, ta có thể khái quát được XHTD doanh nghiệp là đánh giá năng lực tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh hiện tại và triển vọng trong tương lai của doanh nghiệp được xếp hạng, từ đó xác định được mức độ rủi ro không trả được nợ và khả năng trả nợ trong tương lai. Theo Basel, hệ thống XHTD nội bộ là sự kết hợp của tất cả các phương pháp, quy trình xếp hạng, quá trình thu thập dữ liệu và các hệ thống tin học hỗ trợ cho việc đánh giá rủi ro tín dụng, rủi ro nội bộ và lượng hóa tổn thất khách hàng không trả nợ (Basel 2001). Theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN, hệ thống XHTD nội bộ là hệ thống gồm các bộ chỉ tiêu tài chính và phi tài chính, các quy trình đánh giá khách hàng trên cơ sở định tính và định lượng về mặt tài chính, tình hình kinh doanh, quản trị, uy tín của khách hàng, được xây dựng cho từng đối tượng khách hàng khác nhau, kể cả đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng và những người có liên quan của đối tượng này.
Như vậy, có thể khái quát XHTD nội bộ KHDN của NHTM là sử dụng hệ thống XHTD nội bộ của mình để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng vay, mức độ rủi ro của khoản vay, làm cơ sở để đưa ra quyết định cấp tín dụng, quản lý rủi ro, xây dựng chính sách khách hàng phù hợp đối với từng đối tượng khách hàng theo kết quả xếp hạng. Vai trò của xếp hạng tín dụng khách hàng doanh nghiệp 1. Đối với thị trƣờng tài chính Hầu hết các thị trường chứng khoán của các nước trên thế giới đều tồn tại các tổ chức XHTD, đây là xu thế phù hợp với điều kiện kinh tế thế giới hiện nay, vì kết quả XHTD là một kênh cung cấp thông tin đa chiều về tình hình tài chính, cơ cấu tổ chức, môi trường nội bộ, năng lực của Ban lãnh đạo doanh nghiệp, chính sách ưu đãi của Nhà nước, quan hệ với bên mua, bên bán, … là cơ sở để đánh giá và từ đó 9 đưa ra quyết định đầu tư, nhằm loại bỏ đi tình trạng thông tin bất cân xứng giữa các bên. Vai trò quan trọng của XHTD trên thị trường tài chính là: - Các nhà đầu tư dựa vào kết quả XHTD để thực hiện chiến lược đầu tư để cho kết quả đạt được như mong muốn với rủi ro ở mức thấp; - Dựa vào kết quả XHTD tạo dựng được niềm tin đối với các nhà đầu tư, các tổ chức cần huy động vốn sẽ thực hiện chiến lược huy động vốn với chi phí thấp nhưng vẫn huy động được nguồn vốn mong muốn dễ dàng và thuận lợi.
Đối với doanh nghiệp đƣợc xếp hạng - Giúp các doanh nghiệp biết được sự đánh giá khách quan của bên thứ ba về khả năng tài chính và tình hình hoạt động của doanh nghiệp, từ đó tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu và có các giải pháp, phương hướng khắc phục những thiếu sót để hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn; - Tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, tạo nên những cơ hội đầu tư/hợp tác đầu tư, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh; - Các doanh nghiệp thông qua kết quả XHTD để quảng bá hình ảnh của mình, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, được đánh giá, xếp hạng cao bởi những cơ quan xếp hạng có uy tín; - Giúp các doanh nghiệp xây dựng chiến lược phát triển của mình, xây dựng cơ cấu tài chính, chính sách đầu tư thích hợp để đạt đến các mục tiêu đề ra.