mở đầu của hoạt động thương mại quốc tế (TMQT) và là bộ phận quan trọng trong hoạt động ngoại thương của mỗi nước. TMBG giữa hai nước láng giềng không chỉ đơn thuần là hoạt động buôn bán tại các cửa khẩu biên giới mà nó có phạm vi rộng hơn, bao trùm các hoạt động XNK hàng hóa và dịch vụ được diễn ra trên toàn bộ khu vực biên giới của hai nước, bao gồm cả thương mại chính ngạch, thương mại tiểu ngạch hàng hóa và hoạt động mua bán của cư dân hai nước dọc biên giới. Theo Quyết định số 52/2015/QĐ-TTg ngày 20/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý hoạt động TMBG với các nước có chung biên giới thì hoạt động TMBG có phạm vi rất rộng, bao gồm: (i) Hoạt động mua bán hàng hóa qua biên giới của thương nhân; (ii) Hoạt động mua bán, trao đổi hàng hoá của cư dân biên giới; (iii) Hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa tại chợ biên 10 z giới, CCK và chợ trong KKTCK; (iv) Dịch vụ hỗ trợ thương mại tại khu vực cửa khẩu, lối mở biên giới. Nội dung và đặc điểm của hoạt động thương mại biên giới * Nội dung của hoạt động thương mại biên giới Hoạt động TMBG rất đa dạng, phong phú và có tính linh hoạt cao về điều kiện kinh doanh, chủ thể kinh doanh, quy mô, mặt hàng kinh doanh, phương thức kinh doanh, phương thức thanh toán, đặc biệt là những hình thức dịch vụ, cụ thể: Thứ nhất, hoạt động lưu chuyển hàng hóa qua biên giới, bao gồm: (i) Hoạt động XNK hàng hóa qua các cửa khẩu, lối mở biên giới đất liền được hưởng những ưu đãi thuận lợi theo thỏa thuận giữa các nước có chung biên giới hoặc những ưu đãi thuận lợi do một nước có chung biên giới đơn phương áp dụng; (ii) Hoạt động mua, bán, trao đổi hàng hóa tại chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong KKTCK; (iii) Hoạt động mua, bán, trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới.
Thứ hai, hoạt động dịch vụ hỗ trợ tại khu vực biên giới, bao gồm: (i) Các dịch vụ công: Xuất nhập cảnh người và phương tiện, kê khai hải quan, kiểm dịch, cấp Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) và các chứng nhận tiêu chuẩn xuất khẩu khác; (ii) Các dịch vụ hỗ trợ nâng cao năng lực giao nhận - vận chuyển hàng hóa qua biên giới (logistics): kho vận, kiểm tra, gia công, đóng gói, phân phối…nhằm liên kết giữa các nhà sản xuất và các nhà xuất nhập khẩu; (iii) Các dịch vụ hỗ trợ nâng cao khả năng tiếp cận và thâm nhập thị trường: nghiên cứu thị trường, tư vấn, môi giới, đại lý mua bán, ủy thác xuất nhập khẩu, chuyển khẩu, quảng cáo, hội chợ…; (iv) Các dịch vụ lao động tại khu vực biên giới: phiên dịch, bốc dỡ, vận chuyển vệ sinh, bảo vệ…; (v) Các dịch vụ về tài chính, tiền tệ: đổi tiền, gửi tiền, chuyển khoản, thanh toán…; (vi) Các dịch vụ điện, nước, xử lý chất thải và đặc biệt là vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái khu vực biên giới. Thứ ba, hoạt động cung cấp dịch vụ qua biên giới, gồm: Dịch vụ bưu chính viễn thông, điện thoại, internet; dịch vụ ăn uống, nghỉ ngơi; dịch vụ văn 11 z hóa, thể thao, vui chơi, giải trí; dịch vụ chăm sóc y tế, làm đẹp, cắt tóc, sửa chữa; dịch vụ tổ chức nghi lễ (hiếu, hỉ). * Đặc điểm của hoạt động thương mại biên giới So với hoạt động thương mại quốc tế, hoạt động TMBG có một số điểm khác biệt như: Thứ nhất, quy mô hàng hóa đa dạng, từ những lô hàng XNK có quy mô rất lớn đến những lô hàng có quy mô nhỏ, thậm chí, có những lô hàng chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt ở khu vực biên giới (trao đổi, mua, bán cư dân biên giới). Thứ hai, tính linh hoạt cao (do đặc điểm về chủ thể, địa điểm kinh doanh, mặt hàng, phương thức kinh doanh và quy mô TMBG tạo ra), dễ phát sinh hiện tượng buôn lậu, gian lận thương mại: (i) Chủ thể tham gia kinh doanh TMBG không chỉ bao gồm các DN thuộc mọi thành phần kinh tế, mà còn có thương lái, các hộ kinh doanh và cư dân dọc biên giới hai nước mua, bán hàng hóa phục vụ tiêu dùng và sản xuất dưới hình thức mua bán, trao đổi dân gian; (ii) Địa đểm trao đổi, mua, bán hàng hóa TMBG rất khác nhau.
Hàng hóa XNK có thể được giao tại biên giới, tại cửa khẩu (cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính hoặc cửa khẩu quốc gia hoặc cửa khẩu song phương) nhưng cũng có thể giao tại đường qua lại tạm thời hoặc cửa khẩu phụ hoặc lối mở biên giới hoặc tại các cặp chợ biên giới, chợ cửa khẩu; (iii) Hoạt động TMBG áp dụng nhiều phương thức kinh doanh khác nhau như: XNK trực tiếp, XNK thông qua các đại lý, môi giới, mua bán đối lưu, gia công quốc tế, hàng đổi hàng…; (iv) Hình thức thanh toán TMBG rất đa dạng. Ngoài những phương thức thanh toán thông thường trong TMQT (chuyển tiền, tín dụng chứng từ.), còn có các phương thức thanh toán khác như: thanh toán qua ngân hàng, thanh toán trực tiếp giữa người bán và người mua (có thể trả ngay hoặc trả chậm) và sử dụng đồng tiền của nước người bán hoặc người mua (bản tệ), hàng đổi hàng. Thứ ba, TMBG chịu ảnh hưởng không nhỏ từ tập quán văn hóa cư dân biên giới. Tập quán mua, bán, trao đổi hàng hóa vốn đã được hình thành và tồn tại từ lâu đời của các hộ kinh doanh và cư dân các vùng dọc biên giới hai 12 z nước có chung biên giới.
Tập quán, thói quen này ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình hoạch định, thực hiện chính sách quản lý TMBG. Đây là những đặc điểm cần chú ý trong quản lý TMBG. Cơ quan quản lý cần phải đánh giá, nghiên cứu kỹ và nắm vững để lập kế hoạch, ban hành chính sách, tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát nhằm đạt được các mục tiêu, yêu cầu đề ra; kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi lợi dụng chính sách TMBG để vi phạm pháp luật, nhất là hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển trái phép hàng cầm qua biên giới. Khái niệm, vai trò, đặc điểm của quản lý thƣơng mại biên giới 1.
Khái niệm quản lý thương mại biên giới Trước hết, có thể hiểu “Quản lý nhà nước là một dạng quản lý do nhà nước làm chủ thể, định hướng điều hành, chi phối. để đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định” (Phan Huy Đường, 2015. “Quản lý nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức, có mục đích của nhà nước lên các hoạt động kinh tế (đối tượng và khách thể hoạt động kinh tế) để sử dụng có hiệu quả tiềm năng, các nguồn lực, các cơ hội nhằm đạt được mục tiêu trước mắt và lâu dài của nền KT-XH” (Phan Huy Đường, 2015. Đến nay, chưa có khái niệm chính thức về quản lý TMBG.
Trên cơ sở các khái niệm trên và các quy định liên quan đến quản lý TMBG có thể khái quát: Quản lý TMBG là sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp có chủ đích của nhà nước thông qua việc ban hành, thực thi các quy định, chính sách nhằm định hướng, dẫn dắt hoạt động TMBG phát triển ổn định theo kế hoạch phát triển KT-XH từng thời kỳ; đồng thời, góp phần giữ vững an ninh - chính trị khu vực biên giới, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ quốc gia và góp phần xây dựng một đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển. Quản lý TMBG bên cạnh việc phải tuân thủ các quy định của luật pháp quốc gia, còn phải tuân thủ các điều khoản quy định tại các Hiệp định song phương, đa phương được ký kết giữa hai hay nhiều quốc gia có chung biên giới. Vai trò quản lý thương mại biên giới Thứ nhất, tạo lập môi trường và điều kiện cho thương mại biên giới phát triển. Mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh đều diễn ra trong một môi trường nhất định.
Môi trường thuận lợi cho hoạt động TMBG trước hết là môi trường chính trị. Ổn định về chính trị sẽ tạo thuận lợi cho đầu tư, tăng trưởng thương mại nói chung và TMBG nói riêng. Ngoài ra, thông qua quản lý TMBG, các cơ quan quản lý còn tạo lập và duy trì môi trường kinh tế thuận lợi bằng việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng các định chế, phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị với các nước có chung biên giới, tạo điều kiện cho các DN mở rộng quan hệ kinh tế, thương mại với các đối tác nước ngoài; bảo vệ lợi ích chính đáng của các chủ thể tham gia hoạt động TMBG; xây dựng thị trường; đào tạo nguồn nhân lực chất lượng ngày càng cao để đáp ứng yêu cầu nhân lực… Nhà nước bảo đảm sự ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội cho TMBG phát triển thông qua thực thi cơ chế, chính sách; tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở (vật chất, tài chính, luật pháp…) cho TMBG phát triển. Tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, phù hợp với xu hướng phát triển TMBG trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế.
Thứ hai, định hướng cho sự phát triển của thương mại biên giới. Đây là vai trò có tính chất chủ đạo nhằm dẫn dắt, định hướng cho các tổ chức, DN trong việc hoạch định chiến lược kinh doanh trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn. Trên cơ sở các Hiệp định thương mại song phương, đa phương và thông tin thị trường quốc tế và khu vực. Nhà nước quy hoạch và ban hành các cơ chế, chính sách để định hướng cho các DN phát triển theo các mục tiêu đã được hoạch định trước trong từng thời kỳ.
Thông qua công tác quy hoạch phát triển tổng thể thương mại; công tác thu thập, xử lý thông tin thị trường và gắn với việc hoạch định ban hành các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển TMBG trong từng thời kỳ, Nhà nước định hướng cho các DN, tổ chức tham gia XNK hàng hóa qua biên giới tham gia sản xuất - xuất khẩu các hàng hóa có lợi thế cạnh tranh và nhập khẩu các hàng 14 z hóa, nguyên nhiên vật liệu mà trong nước sản xuất nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường. Thứ ba, điều tiết và can thiệp vào quá trình hoạt động thương mại biên giới. Nhà nước có vai trò củng cố, bảo đảm dân chủ, công bằng cho mọi người, mọi thành phần kinh tế trong hoạt động TMBG.