Chương 1: Cơ sở lý luận chung về hoạt động cho vay thế chap ô tô đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng mở rộng hoạt động cho vay thế chấp ô tô đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại VPBank — PGD Đông Hà Nội Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay thế chấp ô tô đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng — PGD Đông Hà Nội CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VE HOẠT ĐỘNG CHO VAY THE CHAP Ô TÔ ĐÓI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGAN HANG THUONG MẠI 1. TONG QUAN VE DOANH NGHIEP VUA VA NHO 1. Khái niệm về doanh nghiệp vừa va nhỏ Theo Nghị định 39/2018/NĐ-CP ban hành ngày 11/03/2018: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân (tổng nguồn vốn là tiêu chí được ưu tiên hơn), cụ thê: Bảng 1.1: Phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ Quy mô | Doanh nghiệp siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Lĩnh Số lao | Tổng | Tổng | Số lao | Tong | Tổng | Số lao | Tổng | Tổng vực động | doanh | nguồn | động | doanh | nguồn | động | doanh | nguồn thu vốn thu vốn thu vốn INông | Không | Không | Không | Không | Không | Không | Không | Không | Không nghiệp, | quá 10 | quá3 | quá 3 quá | quá20 | quá20 | qua quá quá lâm người tỷ tỷ 100 tỷ tỷ 200 | 200ty | 100tỷ nghiép, người người thủy sản Công | Không | Không | Không | Không | Không | Không | Không | Không | Không nghiệp, | quá 10 | quá3 | quá 3 quá | quá20 | quá20 | quá quá quá xây người tỷ tỷ 100 tỷ tỷ 200 | 200ty | 100tỷ dựng người người Thương | Không | Không | Không | Không | Không | Không | Không | Không | Không mại, quá 10 | quá 10 | quá3 | quá50 | quá | quá50 | qua quá quá dịch vụ | người tỷ tỷ người | 100 tỷ tỷ 100 | 300 tỷ | 100ty người (Nguôn: Điêu 6, Nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2019 hướng dân Luật Hồ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ) Theo EU recomendation 2003/411: Các nhân tố chính quyết định liệu một doanh nghiệp có phải là doanh nghiệp vừa và nhỏ là: Nhân viên; doanh thu hoặc bảng cân đối tổng. Quy mô Nhân viên Doanh số | hoặc | Tông cân đôi kê toán là Doanh nghiệp vừa <250 người <€50m <€43m Doanh nghiép nho <50 người <€10m <€10m Doanh nghiệp vi mô <10 người <€2m <€2m (Nguồn: EU Recommendation 2003/411) 1.
Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ Theo Th.S Nguyễn Thị Hải Ninh trong bài nghiên cứu “ Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam trong bối cảnh kinh tế toán cầu” có đưa ra các đặc điểm nỗi bật của doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Theo đó doanh nghiệp vừa và nhỏ có các đặc điểm cơ bản như sau: Thứ nhất: Doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh và tiềm lực tài chính nhỏ. Với lượng vốn đầu tư giới hạn và số lượng lao động không quá 200 người thì quy mô của các doanh nghiệp là tương đối nhỏ, chính điều này đã mang lại một số lợi thế cho các SMEs như khả năng dễ thành lập. dễ gia nhập thị trường, khả năng thu hồi vốn nhanh.
Nhờ tính linh hoạt trong kinh doanh mà các SMEs dễ lap các khoảng trống của các doanh nghiệp lớn dé lại, có khả năng chống đỡ được những cú sốc của khủng hoảng kinh tế do các SMEs thường chọn những ngành nghề hầu như ít bị tác động bởi khủng hoảng như kinh doanh các mặt hàng thiết yếu thường là thực phẩm, may mặc, nông sản. Những sản phẩm tiêu dùng trở thành thế mạnh của các SMEs. Bên cạnh đó, đặc điểm quy mô nhỏ dẫn đến tổ chức bộ máy quản lý gọn nhẹ. Tuy nhiên, quy mô vốn nhỏ đã khiến các SMEs gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với các nhà đầu tư khi vẫn đề minh bạch thông tin còn hạn chế, đo đó các SMEs thường không dat được lợi thế về quy mô như doanh nghiệp lớn.
Dé gia tăng tiềm lực tài chính, các SMEs phải phụ thuộc vào nhiều nguồn phi chính thức, chiếm dụng từ đối tác và lợi nhuận giữ lại. Thứ hai: Loại hình doanh nghiệp và ngành nghé, lĩnh vực phong phú. SMEs hoạt động dưới nhiều loại hình doanh nghiệp như hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phan. trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau.
Thứ ba: Chiến lược sản xuất kinh doanh, trình độ khoa học kỹ thuật và năng lực cạnh tranh hạn chế. Các SMEs đa phần chỉ xây dựng mục tiêu, kế hoạch sản xuất kinh doanh mang tính tạm thời, ngắn hạn, đáp ứng nhu cầu biến động của thị trường. Bên cạnh đó các SMEs ở Việt Nam thường gắn với công nghệ lạc hậu, thủ công, do nguồn vốn hạn hẹp. Hiện nay, sự tranh giành thị phần giữa các doanh nghiệp là vô cùng khốc liệt, buộc các doanh nghiệp phải tự mình đổi mới công nghệ sản xuất, nâng cao năng suất và chat lượng sản pham, như vậy mới có thê tồn tại và phát triển”.
Từ những đặc điểm trên, có thể khái quát thành những đặc trưng cơ bản của SMEs như sau: - Hình thức sở hữu: Co đầy đủ các hình thức sở hữu: Nhà nước, tập thể, tư nhân và hỗn hợp. - Về hình thức pháp lý: Các doanh nghiệp vừa và nhỏ được hình thành theo Luật doanh nghiệp và những văn bản dưới Luật. - Lĩnh vực và địa bàn hoạt động: Các doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu phát triển ở các ngành dịch vụ, thương mại (buôn bán) đặc biệt là hàng hóa tiêu dùng. - Công nghệ và thị trường: Các doanh nghiệp vừa và nhỏ đa phan có tiềm lực tài chính thấp, công nghệ và thiết bị lạc hậu, lao động thủ công được sử dụng chủ yếu.
- Trinh độ tổ chức quản lý và tay nghề của người lao động còn thấp. Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với nền kinh tế Tuy các SMEs có quy mô doanh nghiệp nhỏ nhưng các chuyên gia tại Việt Nam và các nước đều thừa nhận rằng SMEs có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế xã hội như sau: Thứ nhất: Các SMEs có vai trò đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế. Ở Việt Nam, số liệu thống kê chỉ ra rằng trong năm 2012 đóng góp của khu vực này vào ngân sách quốc gia chỉ khoảng 22% trong tổng lượng đóng góp của tất cả khu vực doanh nghiệp. Tỷ lệ này đã nhanh chóng tăng lên 32,5% vào năm 2018.
Về con số tuyệt đối, số tiền thuế và phí mà các SMEs đã phải nộp cho nhà nước tăng 9 lần sau gần 6 năm. Cac SMEs đóng góp hơn 45% GDP cả nước. Bên cạnh đó theo đánh giá của Viện nghiên cứu và quản lý trung ương, SMEs còn đóng góp 31% giá trị cho sản xuất công nghiệp; chiếm 78% mức bán lẻ ngành thương nghiệp, 64% khối lượng vận chuyền hàng hóa hành khách. Thứ hai, tác động kinh tế - xã hội lớn nhất của SMEs là giải quyết một số lượng lớn công ăn việc làm cho dân cư, giúp tăng thu nhập người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo.
Ở Việt Nam, do đặc điểm của các SMEs là sử dụng ít vốn nhưng nhiều lao động lên mỗi năm SMEs tạo ra hơn một triệu việc làm mới, số lượng lao động thủ công, nghề đơn giản, mua bán chiếm đến 76,8% tổng số lao động cả nước. Thứ ba, các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phan làm nên kinh tế thị trường trở lên năng động hơn. Sự năng động đó của các SMEs được tạo ra từ chính đặc trưng linh hoạt nhanh chóng lap day các khoảng trống của thị trường đã nói lên vai trò ôn định kinh tế của các SMEs. Thứ tư, khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ thu hút được khá nhiều nguồn vốn trong dân cư.
Thứ năm, Các SMEs góp phần đây nhanh quá trình chuyền dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt với khu vực nông thôn. Thứ sáu, các doanh nghiệp SMEs là nơi ươm mam các tài năng kinh doanh, là nơi dao tạo, rèn luyện các nhà doanh nghiệp, giúp họ làm quen với môi trường kinh doanh. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐÓI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Theo PGS.TS Tô Ngọc Hưng: “Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa ngân hang và bên đi vay (cá nhân, DN và các chủ thé khác).
Trong đó, ngân hàng chuyền giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện sốc và lãi cho ngân hàng đến khi đến hạn thanh toán.” Theo Giảng viên Nguyễn Văn Học (Đại học Kinh Tế Quốc Dân): “Tín dụng ngân hàng (bank credit) là thuật ngữ dùng dé chỉ tất cả các khoản cho vay của hệ thống ngân hàng, dù chúng được thực hiện dưới hình thức nào. Trong lý thuyết về ngân hang và cung ứng tiền tệ, những thay đổi trong khối lượng tín dụng ngân hàng tạo ra sự thay đổi theo cùng một hướng trong tiền gửi ngân hàng. Quy mô hiệu ứng này phụ thuộc vào mức độ “rò rỉ” tài sản dự trữ (phần lớn là tiền mặt) ra khỏi hệ thống ngân hàng do chính những thay đổi trong tín dụng và tiền gửi gây ra, chăng hạn do nhu cầu về tiền mặt trong lưu thông tăng hay do nhập khẩu tăng”. Quy mô tín gid tri ròng của dự trữ trong hệ thống = các khoản nợ + , - dung NH hé thong NH NH Trong bai chuyên dé này, tôi đã sử dung khái niệm về Ngân hang thương mai tại Việt Nam theo Thông tư số 20 của Ngân hang nhà nước Việt Nam dé hoàn thành bài nghiên cứu của mình, theo đó: Tín dụng ngân hàng phản ánh mối quan hệ giữa một bên là ngân hàng với một bên là các chủ thê khác trong nền kinh tế bao gồm cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp và nhà nước; trong đó ngân hàng vừa là người di vay vừa là người cho vay hay ngân hàng đóng vai trò là một trung gian tài chính luân chuyển vốn từ nơi tạm thừa vốn sang nơi thiếu vốn.