Chương I Cơ SỞ LÝ TH UYẾT I- LÝ THUYẾT LỊCH sự VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LỊCH s ự TRONG ĐOẠN THOẠI XIN PHÉP 1. Các lý thuyết về lịch sự Vấn đề lịch sự đã được nhiêu tác giả nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau. Trong khuôn khổ cuốn sách này, chúng tôi sẽ trình bày ngắn gọn quan điểm của bốn nhà nghiên cứu, đó là R. Lakoff Khi bàn về lịch sự, Lakoff đã đưa ra ba loại quy tắc lịch ♦ sự; • Thứ nhất, quy tắc lịch sự quy thức: Đó là quy tắc không được áp đặt.
Tính áp đặt trong tương tác được thể hiện ỏ sự ngăn cản người nghe không được hành động theo ý muốh của mình, còn không áp đặt nghĩa là không ngăn cản sự hành động theõ ý muôn của người nghe, không dò tìm quan điểm riêng tư, tránh động chạm tới những gì thuộc về riêng tư cá nhân như: gia đình, công việc, thói quen.; tránh sử dụng ngôn ngữ có xu hưóng 15 xúc phạm tới thể diện người nghe. Thể hiện lịch sự trong giao tiếp theo nguyên tắc này là người nói sẽ tránh sử dụng những hành vi ngôn ngữ có tính áp đặt hoặc sử dụng những giải pháp có giá trị làm giảm bót sự áp đặt trong lồi nói của mình. Do vậy, lịch sự quy thức có tính phi cá nhân (impersonal). Thứ hai, quy tắc lịch sự có tính phi quy thức: Đó là quy tắc dành cho người đối thoại sự lựa chọn.
Quy tắc này phù hỢp vói ngữ cảnh giao tiếp mà ở đó các đối ngôn có sự ngang bằng vể quyền lực và địa vị xã hội nhưng không gần nhau về quan hệ xã hội (không quen biết hoặc thân thiết). Để người nghe nhận ra ý định của mình và đi theo quan điểm ấy thì ngưồi nói sẽ để xuất vấn đề theo cách thức gián tiếp, nghĩa là phải nói đường vòng, phải sử dụng những lối nói rào đón (hedges) hoặc theo lối nói hàm ẩn như: “Có lẽ bạn sẽ giúp minh mang chỗ sách báo này lên thư viện chứ nhỉ?” ("có lẽ": yếu tô" rào đón); “Chị không dùng đến chiếc ghê này nữa đâu nhỉ?” (hàm ẩn: chị không dùng đến chiếc ghế này thì hãy cho tôi mượn nó). Trong tình huốhg phải sử dụng những phát ngôn mang tính áp đặt đốì với người nghe thì ngưòi nói sẽ sử dụng cách nói mơ hồ về mặt ngữ dụng. Thứ ba, quy tắc về phép lịch sự bạn bè hay thân tình: Đó là quy tắc khuyến khích tinh cảm bạn bè.
Quy tắc này thích hợp vối những mối quan hệ bạn bè gần gũi hoặc thực sự thân mật vối nhau. Trái ngược vối phép lịch sự phi quy thức, nguyên tẵc chi phối ở đây không phải là chỉ dừng ỏ chỗ tỏ ra quan tâm thực sự đến nhau 16 mà còn phải tỏ ra săn sóc nhau, tin cậy nhau "bằng cách thổ lộ hết tâm can đốì với nhau", bộc lộ hết mọi chi tiết của cuộc sống, kinh nghiệm, cảm xúc. của mỗi người đối vôi nhau’. b) Lý thuyết lịch sư của G.
Leech Đặc trưng cớ bản trong hệ thốhg lý thuyết về lịch sự của G. Leech là không xây dựng lịch sự trên-nền nhân tô" thể diện mà dựa trên hai nhân tố khác, đó là: tổn thất và lợi ích, gồm một siêu nguyên tắc và các phương châm, các tiểu phương châm. Nội dung khái quát siêu nguyên tắc lịch sự của Leech là: Trong những điểu kiện khác nhau, hãy giảm thiểu biểu hiện của những niềm tin không lịch sự; hãy tăng tốỉ đa biểu hiện của những niềm tin lịch sự. Siêu nguyên tắc này lại bao trùm sáu phưđng châm lịch sự lốn: - Khéo léo (tact maxim): + Giảm thiểu tổn thất cho ngưòi.
+ Tăng tỐì đa lợi ích cho ngưòi. - Rộng rãi (generosity maxim): + Giảm thiểu lợi ích cho ta. + Tăng tối đa lợi ích cho ngưòi. - Tán thưởng (approbation maxim): + Giảm thiểu sự chê bai đôi với người.
Dân theo; Đỗ Hữu Châu: Đại cương ngôn ngữ học - N gữ dụng học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2001, t. 17 + T ăn g tốì đa k h en ngỢi ngưòi. - Khiêm tốn (m odesty m axim ): + G iảm th iểu k h en ngợi ta.
+ T ăng tốì đa sự chê bai ta. - Tán đồng (agreem en t maxim ): + G iảm th iểu sự bất đồng giữa ta với người. + T ăn g tối đa sự đồng ý giữa ta với ngưòi. - Thiện cảm (sym p ath y maxim ): + G iảm th iểu ác cảm giữa ngưòi với ta.
+ T ăng tốĩ đa th iện cảm giữa ta vói ngưòi. L evin son xây dựng lý th u y ế t lịch sự của m ình trên cơ sỏ k h ái niệm thể diện (face) của G offm an (1967) và ngôn từ dân dã tiến g A nh, tron g đó thể diện được gắn với các kh ái niệm bị làm bẽ mặt, làm nhục hay bị mất thể diện (losin g face)’. Như vậy, thể diện là một yếu tố được đầu tư về mặt tinh thần, có thể bị mất đi hoặc được bảo tồn, cải thiện và thường xuyên được chú ý đến trong tương tác. Nhìn chung, con người hỢp tác với nhau (hoặc giả định hỢp tác) để giữ thể diện trong tưđng tác - một sự hợp tác bắt nguồn từ “tính bấp bênh dễ mất của thể diện”.
Nghĩa là, thông thưòng, thể diện 1. Brown, Levinson; Lịch sự, m ột vài p h ổ niệm trong dụng ngôn, in trong sách Ngôn ngữ, văn hóa và xã hội - m ột cách tiếp cận liên ngành (Vũ Thị T hanh Hương và Hoàng Tử Quân dịch), Nxb. Thế giói, Hà Nội, 2006, tr. 18 của bất kỳ người nào cũng phụ thuộc vào việc những người khác có giữ thể diện cho mình hay không.
Nói chung, bảo vệ thể diện cho nhau là một yêu cầu nhằm phục vụ cho lợi ích của tất cả mọi người một cách tốt nhất. Thể diện được Brown và Levinson chia làm hai loại: - Thể diện tiêu cực: xuất hiện khi một thành viên có năng lực nào đó mong muốn những hành động của mình không bị người khác áp đặt. - Thể diện tích cực: xuất hiện khi một thành viên có năng lực nào đó mong muốh những hành động của mình được m ột sô" người khác đồng tình. Theo Brown và Levinson, có một sô" hành động có bản chất đe dọa hai loại thể diện trên trong một cuộc tương tác và những "hành động đe dọa thể diện" này được viết tắt là FTA.
FTA có thể đưỢc chia thành bốn nhóm: - N h ữ n g h à n h đ ộ n g đe dọa thể d iệ n tiêu cực của người nói. - N h ữ n g h à n h đ ộ n g đe dọa thể diện tíc h cực của người nói. - N h ữ n g h à n h đ ộ n g đe dọa thể diện tiê u cực của người nghe. - N h ữ n g h à n h động đe dọa thể diện tích cực của người nghe.
Do vậy, cần có giải pháp để giữ gìn hoặc cứu vãn thể diện của đôi bên tham gia hội thoại. Brown và Levinson đã đề xuất ra những chiến lược lịch sự để áp dụng vào những cuộc giao tiếp nhằm mục đích giải quyết vấn đề thể diện của ngưòi nói - người nghe và duy trì sự hài hoà trong 19 quan hệ liên cá nhân giữa những người tham gia hội thoại. Tương ứng với hai loại thể diện, Brown và Levinson đã đề xuất ra hai loại chiến lược lịch sự là: chiến lược lịch sự tích cực và chiến lược lịch sự tiêu cực. - Chiến lược lịch sự tích cực hưởng về thể diện tích cực của người nghe hình ảnh cái tôi tích cực mà người nghe đòi hỏi cho mình.
Lịch sự tích cực có cơ sỏ là tình thân hữu; nó “vuốt ve” thể diện của người nghe bằng cách chỉ ra rằng ỏ một vài khía cạnh người nói cũng có những mong muốn của người nghe (tức là coi người nghe như thành viên của một nhóm, một người bạn, một con người vói những mong muốh và đặc trưng tính cách được người ta biết và thích). - Chiến lược lịch sự tiêu cực, ngược lại, chủ yếu hướng tối bù đắp một phần thể diện tiêu cực của người nghe, những mong ttiuốn cớ bản của người nghe để bảo toàn lãnh địa riêng tư và quyền tự quyết định. Như vậy, thể diện tiêu cực về cơ bản là sự tránh né và sự hiện thực hoá các chiến lược lịch sự tiêu cực là đảm bảo rằng ngưòi nói thừa nhận và tôn trọng các mong muốn thể diện tiêu cực của người nghe và sẽ không (hoặc chỉ ỏ mức tối thiểu) can thiệp vào quyền tự do hành động của người nghe. Từ đây, lịch sự tiêu cực có đặc trưng là sự hạ mình, tính trân trọng và dè dặt, giảm thiểu cái tôi của ngưòi nói và tập trung vào mong muốn của ngưòi nghe'.
Brown, Levinson: Lịch sự, một vài p h ổ niệm trong dụng ngôn, Sđd, tr. 20 Tuy nhiên, có một sự căng thẳng tự nhiên trong lịch sự tiêu cực giữ a; m ong m uốh được thực h iện hành động m ột cách trự c tiếp như là điều k iện để được xem là có chú ý đến thể diện và m ong m uốn được thực h iện hành đ ộ n g một cách gián tiếp để tránh sự áp đặt. Sự thoả hiệp đạt được ở chiến lược gián tiếp có quy ước (conventionalized indirectness), bởi vì vối bất cứ một cơ chế gián tiếp nào được dùng để thực h iện m ột hàn h động đe dọa thể diện (FTA), m ột khi được coi là m ột cách thức hoàn toàn m ang tính quy ưốc nên chúng đã trở thành trực tiếp. Ví dụ: [1] Ông có thế chuyển cho tôi lọ muối được không'? Phát ngôn [1] sẽ được mọi ngưòi h iểu là m ột lồi cầu khiến; sẽ không có m ột cách lý giải nào khác của p h át ngôn này, ngoại trừ những hoàn cảnh rất đặc biệt.
Như vậy, giữa hai (hay nhiều) cá nhân nào đó khi tham gia hội thoại th ì bất cứ m ột ph át ngôn nào cũng có những quy ước nhất định và do đó có tính trực tiếp, như trong trường hỢp của các m ật mã và các bộ m ật mã: “M ột sự “đứng ngoài” thuần tuý quy ước cũng có chức năng như một hành động bù đắp trong lịch sự tiêu cực bởi nó thể hiện m ột sự chú ý đến m ong m uốn th ể diện tiêu cực của người nghe.