Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ tâm lý học với đề tài "Tự điều chỉnh xúc cảm của người làm tham vấn tâm lý" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Võ Thị Tường Vy dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Kim Quý, bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2013 (chuyên ngành Tâm lý học chuyên ngành, mã số 62.05).
Bản chất của hoạt động tham vấn tâm lý là một quá trình tương tác xã hội sâu sắc giữa người làm tham vấn tâm lý (NLTVTL) và thân chủ (TC). Để thực hiện tốt vai trò nâng đỡ, soi sáng vấn đề và giải tỏa cảm xúc tiêu cực cho thân chủ, NLTVTL luôn phải lắng nghe, thấu cảm và đồng hành trước những khủng hoảng, nỗi đau, sự giận dữ, bất an hay sợ hãi của thân chủ. Tuy nhiên, việc thường xuyên tiếp xúc với các câu chuyện khủng hoảng khiến NLTVTL dễ chịu ảnh hưởng tiêu cực, làm nảy sinh các triệu chứng như chán nản, buồn phiền, tức giận, vô vọng, mặc cảm tội lỗi và mất niềm tin. Đây được xem như "cái giá phải trả cho việc quan tâm chăm sóc người khác" theo nhận định của C. Figley. Nếu không thể tự điều chỉnh xúc cảm (TĐCXC), NLTVTL có thể để cảm xúc cá nhân tác động ngược trở lại tiến trình tham vấn, làm mất đi tính khách quan nghề nghiệp, hoặc dẫn tới ức chế, bùng phát tâm lý, làm suy giảm chất lượng cuộc sống và hiệu quả công tác. Trong khi các chương trình đào tạo quốc tế coi TĐCXC là tiêu chuẩn bắt buộc thì tại Việt Nam, lý luận và thực tiễn đào tạo, rèn luyện năng lực TĐCXC cho NLTVTL vẫn còn khá mới mẻ và chưa được quan tâm đúng mức.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là phát hiện thực trạng TĐCXC của NLTVTL, xác định các yếu tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất và thực nghiệm biện pháp nhằm cải thiện mức độ TĐCXC của NLTVTL thông qua tổ chức nhóm giám sát chuyên môn.
Hệ thống nhiệm vụ nghiên cứu của luận án gồm 3 nhiệm vụ:
- Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu TĐCXC của NLTVTL (xác định khái niệm công cụ, tiêu chí đánh giá, các yếu tố tác động).
- Khảo sát và làm rõ thực trạng TĐCXC cùng các yếu tố ảnh hưởng đến TĐCXC của NLTVTL.
- Đề xuất một số biện pháp và tiến hành thực nghiệm tác động nhằm cải thiện mức độ TĐCXC của NLTVTL thông qua tổ chức nhóm giám sát.
Hệ thống giả thuyết nghiên cứu được xác định cụ thể:
- Trong các nhóm cách TĐCXC của NLTVTL (điều chỉnh tình huống gây xúc cảm, điều chỉnh nhận thức, điều chỉnh biểu hiện xúc cảm, chia sẻ xã hội), nhóm cách điều chỉnh nhận thức và chia sẻ xã hội là những nhóm được NLTVTL lựa chọn nhiều nhất.
- Nếu NLTVTL được tham gia vào nhóm giám sát một cách đều đặn cùng với nhà chuyên môn và các đồng nghiệp để được giám sát, chia sẻ và nâng đỡ xúc cảm lẫn nhau thì mức độ TĐCXC của họ sẽ được cải thiện.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Biểu hiện, mức độ TĐCXC của NLTVTL và các yếu tố ảnh hưởng đến TĐCXC của NLTVTL.
- Khách thể nghiên cứu: Khách thể chính gồm 75 NLTVTL đang công tác tại các trung tâm tham vấn, bệnh viện và trường học. Khách thể hỗ trợ gồm 12 chuyên gia, giảng viên đào tạo về tham vấn (tại Pháp, Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh) và 3 thân chủ.
- Phạm vi nội dung: Luận án tập trung vào các xúc cảm tiêu cực phát sinh trong quá trình làm việc và quá trình NLTVTL tự điều chỉnh xúc cảm cho chính bản thân mình khi thực hành nghề nghiệp.
- Phạm vi không gian: Khách thể chính được khảo sát tại địa bàn TP. Hồ Chí Minh; chuyên gia khảo sát tại Pháp, Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan lịch sử nghiên cứu của luận án được tác giả phân định thành hai mảng lớn: nghiên cứu quốc tế và nghiên cứu trong nước.
Về nghiên cứu quốc tế:
- Hướng tiếp cận điều chỉnh xúc cảm tự động: Xuất phát từ phân tâm học và thuyết hành vi. S. Freud đặt nền móng với các cơ chế tự vệ (phòng vệ, dồn nén xúc cảm tiêu cực) nhằm né tránh sự đau đớn. Các công trình của Vaillant (1977), Vaillant & McCullough (1998), Shedler, Mayman & Manis (1993) phát hiện người có mức tự vệ cao có phản ứng sinh lý mạnh hơn (tim đập nhanh, lo âu) khi chịu căng thẳng. Lane, Sechrest, Riedel, Shapiro & Kaszniak (2000) cùng Asendorpf & Scherer (1983), Brosschot & Janssen (1998), Schwartz (1995), Weinberger (1995) chỉ ra rằng dồn nén xúc cảm tự phát làm suy giảm kỹ năng xã hội, nhận thức và gia tăng phản ứng sinh lý tiêu cực. Shaver & Mikulincer (2007), Cassidy (1994), Kobak, Cole, Ferenz-Gillies & Fleming (1993), Mikulincer, Birnbaum, Woddis & Nachmias (2000) chứng minh sự kiềm chế xúc cảm từ thời thơ ấu dần trở thành quá trình tự động hóa; Egloff, Schmukle, Burns & Schwerdtfeger (2006) kết luận dồn nén tự động có tương quan thuận với phản ứng tim mạch. Bên cạnh đó, Aarts & Dijksterhuis (2000), Adams & Markus (2004), Koole & Jostmann (2004), Rothbaum, Pott, Azuma, Miyake & Weisz (2000), Rudman (2004), Koole & Coenen (2007), Kuhl (1981), Jostmann, Koole, Wulp van der & Fockenberg (2005) khẳng định hành động có định hướng mục tiêu giúp điều hòa xúc cảm tự động hiệu quả hơn hành động không định hướng.
- Hướng tiếp cận điều chỉnh xúc cảm có ý thức: Frankel & Linda Camras phân chia thành mô hình hai yếu tố (tác động giai đoạn tạo xúc cảm và tự điều chỉnh trạng thái sau đó). Diamond & Aspinwall (2003) phân tích động lực khoái lạc (hedonic motivation) và bối cảnh quy định tính phù hợp của xúc cảm. Hochschild (1983) cùng Manstead & Fischer (2000) nghiên cứu khuôn mẫu xúc cảm và động cơ điều chỉnh theo chuẩn mực xã hội. Gross & Munoz nghiên cứu can thiệp ở giai đoạn sớm trước khi xúc cảm xuất hiện; Kopel & Arkowitz (1974), Kleck và cộng sự (1976), Lanzetta và cộng sự (1976), McCanne & Anderson (1987), Zuckerman và cộng sự (1981), Bush và cộng sự (1989) tập trung vào kiểm soát biểu hiện xúc cảm bên ngoài. Lazarus & Alfert (1964) và Kraemer cùng cộng sự chứng minh việc đánh giá lại nhận thức (cognitive reappraisal) không làm suy giảm trí nhớ, trong khi Muraven, Tice, Baumeister nhấn mạnh điều chỉnh có ý thức tiêu hao năng lượng nhận thức. Ngược lại, Nolen-Hoeksema, McBride & Larsen (1997), Nolen-Hoeksema & Morrow (1993), Gross (1999) chỉ ra việc nghiền ngẫm (rumination) làm trầm trọng thêm cảm xúc tiêu cực và trầm cảm. Rimé, Noël & Philippot (1991), Zech (2000), Finkenauer & Rimé (1998) nghiên cứu về chia sẻ xã hội; Pennebaker (1997a), Smyth (1998), Esterling, Antoni, Kumar & Schneiderman (1990), Donnelly & Murray (1991), Murray, Lamnin & Carver (1989) khẳng định lợi ích của việc viết bộc lộ cảm xúc đối với sức khỏe thể chất và miễn dịch.
- Nghiên cứu về TĐCXC của NLTVTL: Jeffrey A Daniels & Lisa M Larson, Friedlander, Keller-Baker, Peca & Olk (1986), Beaton & Murphy, Richard (2003) nghiên cứu sự lo âu của NLTVTL trước giám sát và thân chủ; C. Hepworth (1997) đề xuất mô hình nhóm hỗ trợ chia sẻ cảm xúc; Pearman (1995) chỉ ra sang chấn thứ cấp khi làm việc với trẻ em bị bạo hành, lạm dụng. Các yêu cầu kỹ năng và phẩm chất tham vấn được tổng kết qua công trình của Anthony (1973), Zastrow (1985), Ivey (1993), Neukrug (1999), Morales & Sheafor (1987), Wampold (2001).
Về nghiên cứu trong nước:
- Lĩnh vực trí tuệ xúc cảm (EI): Nguyễn Huy Tú, Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thủy, Lê Đức Phúc, Nguyễn Công Khanh, Nguyễn Thị Dung đã bước đầu đề cập đến tự điều chỉnh xúc cảm như một tiểu hệ thống cấu thành EI. Dương Thị Hoàng Yến áp dụng mô hình của Mayer & Salovey (1997) khảo sát 363 giáo viên tiểu học, kết luận năng lực nhận thức xúc cảm cao nhất nhưng năng lực quản lý/điều chỉnh xúc cảm đạt điểm trung bình thấp nhất. Nguyễn Thị Thanh Tâm (2012) khảo sát EI của cán bộ cơ sở tại Nghệ An theo 4 nhánh năng lực; Nguyễn Hồi Loan khảo sát 404 sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội cho thấy điểm tiểu thang quản lý cảm xúc thấp nhất; Đào Thị Oanh nghiên cứu trên học sinh THCS chỉ ra 34,6% học sinh ở mức thấp và rất thấp về năng lực kiềm chế cảm xúc tiêu cực.
- Lĩnh vực tham vấn tâm lý: Đặng Phương Kiệt, Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Công Khanh nghiên cứu về kỹ thuật can thiệp; Nguyễn Ngọc Phú, Trần Thị Minh Đức, Phạm Tất Dong, Trần Quốc Thành, Đinh Phương Duy nghiên cứu lý luận tham vấn; Bùi Thị Xuân Mai, Hoàng Anh Phước nghiên cứu kỹ năng tham vấn; định nghĩa tham vấn được xây dựng bởi Bùi Thị Xuân Mai, Trần Thị Giồng, Trần Thị Minh Đức.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Hầu hết các công trình trong nước chỉ khảo sát năng lực quản lý cảm xúc nói chung trên đối tượng học sinh, sinh viên, giáo viên hoặc cán bộ quản lý. Hoàn toàn chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu lý luận và thực nghiệm chuyên biệt về việc tự điều chỉnh xúc cảm của chính người làm tham vấn tâm lý trong bối cảnh nghề nghiệp tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ:
- Khái niệm điều chỉnh và tự điều chỉnh: Luận án kế thừa quan niệm xem điều chỉnh là sự chỉnh sửa, khắc phục những nhược điểm tâm lý để thích ứng. Thuyết của Tice, Dianne M. Bratslavsky & Ellen xác lập cấu trúc tự điều chỉnh gồm 3 thành phần: (1) tiêu chuẩn của tự điều chỉnh; (2) khả năng hiểu và thực hiện hành vi tự điều chỉnh; (3) sự tự giám sát quá trình dựa trên các tiêu chuẩn đã có.
- Khái niệm xúc cảm và cơ chế thần kinh: Arnold phân chia phản ứng xúc cảm thành phản ứng nhận thức, biểu cảm và phương thức; Izard phân loại 10 xúc cảm nền tảng và xúc cảm phối hợp; Gross (2002) phân tích tiến trình xuất hiện xúc cảm. Về cơ chế sinh học thần kinh, LeDoux phát hiện con đường dẫn truyền tắt trực tiếp từ giác quan đến hạch hạnh nhân (amygdala), cho phép tạo ra phản ứng xúc cảm tức thì trước khi thông tin được vỏ não mới (neocortex) xử lý đầy đủ; Gross, Richards & John, Tomkins (1984), Stuss & Benson (1986) chứng minh TĐCXC là chức năng cao cấp do vùng vỏ não trước trán kiểm soát.
- Khái niệm TĐCXC: Kế thừa quan điểm của Lawrence Balter & Catherine S. Tamis-LeMonda, thuyết James-Lange, Fischer, Manstead và cộng sự (2004), Salovey & Mayer (giai đoạn 4 trong mô hình EI 4 nhánh: tiếp nhận, sử dụng, hiểu và quản lý xúc cảm), Grolnick và cộng sự (2005), Gross & Thompson (2007), Kristalyn Salters-Pedneault (2009). Luận án xác định: TĐCXC của NLTVTL thể hiện ở việc nhận ra những xúc cảm không phù hợp so với yêu cầu nghề nghiệp, từ đó chủ động lựa chọn và thực hiện các cách điều chỉnh hiệu quả nhằm tạo ra sự thay đổi mong muốn.
- Cấu trúc tâm lý của TĐCXC ở NLTVTL gồm hai mặt chính:
- Mặt nhận thức: Nhận thức các yêu cầu xúc cảm trong công việc để định hướng hành vi; nhận biết xúc cảm phù hợp hoặc không phù hợp trong tình huống cụ thể (bao gồm nhận biết các hiện tượng chuyển dịch và chuyển dịch ngược).
- Mặt hành vi: Biết lựa chọn và thực hiện các cách TĐCXC; biết theo dõi và đánh giá tính hiệu quả của cách thức đang sử dụng.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:
- Tiếp cận nghiên cứu: Quan điểm hoạt động - nhân cách (xem TĐCXC hình thành, biến đổi trong chính hoạt động tham vấn) và quan điểm tiếp cận hệ thống (đặt TĐCXC trong mối tương quan với các yếu tố tâm lý cá nhân và tâm lý xã hội).
- Hệ thống phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích, tổng hợp các công trình lý luận về cảm xúc, điều chỉnh xúc cảm và tham vấn tâm lý.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến của 12 chuyên gia, giảng viên đầu ngành trong và ngoài nước.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Khảo sát trên 75 NLTVTL tại TP. Hồ Chí Minh với các thang đo nhận thức yêu cầu xúc cảm, mức độ TĐCXC và các nhóm cách thức TĐCXC.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn trực tiếp NLTVTL, chuyên gia và thân chủ nhằm làm rõ các biểu hiện tâm lý chuyên sâu.
- Phương pháp quan sát: Quan sát hành vi, thái độ và phản ứng biểu cảm của NLTVTL trong quá trình làm việc thực tế.
- Phương pháp thực nghiệm tác động: Tổ chức mô hình nhóm giám sát chuyên môn định kỳ để kiểm chứng sự thay đổi về mức độ TĐCXC của NLTVTL.
- Phương pháp phân tích chân dung tâm lý: Phân tích các trường hợp NLTVTL điển hình ở các mức độ tự điều chỉnh khác nhau.
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý số liệu định lượng bằng các đại lượng thống kê như điểm trung bình (ĐTB), độ lệch chuẩn (ĐLC), kiểm định so sánh tương quan qua phần mềm thống kê.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về tự điều chỉnh xúc cảm của người làm tham vấn tâm lý
Chương này tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận:
- Phân tích bản chất của tham vấn tâm lý như một quá trình trợ giúp chuyên môn; làm rõ các đặc trưng tâm lý và yêu cầu phẩm chất, năng lực của NLTVTL.
- Phân tích cơ sở sinh học thần kinh và các cơ chế tâm lý của điều chỉnh xúc cảm tự động và có ý thức.
- Xác lập cấu trúc tâm lý của TĐCXC ở NLTVTL gồm mặt nhận thức và mặt hành vi.
- Phân loại 4 nhóm cách thức TĐCXC chủ yếu:
- Nhóm điều chỉnh tình huống gây xúc cảm (chủ động tác động, biến đổi hoặc né tránh tình huống).
- Nhóm điều chỉnh nhận thức (đánh giá lại ý nghĩa của tình huống, thay đổi suy nghĩ).
- Nhóm điều chỉnh biểu hiện xúc cảm (kiểm soát nét mặt, cử chỉ, hơi thở, phản ứng cơ thể).
- Nhóm chia sẻ xã hội (bộc lộ, trao đổi cảm xúc với đồng nghiệp, người có chuyên môn).
- Xác lập tiêu chí và thang đánh giá mức độ TĐCXC (phù hợp, tương đối phù hợp, chưa phù hợp); phân tích các nhóm yếu tố chủ quan (giới tính, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm thực tế, sự hài lòng công việc) và khách quan (sự giám sát của nhà chuyên môn, sự hỗ trợ từ đồng nghiệp, hoạt động đào tạo bồi dưỡng, áp lực công việc).
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu tự điều chỉnh xúc cảm của người làm tham vấn tâm lý
Chương này mô tả chi tiết quy trình tổ chức và các bước triển khai nghiên cứu:
- Thiết kế tiến trình nghiên cứu gồm 3 giai đoạn: xây dựng khung lý thuyết; khảo sát thực trạng trên diện rộng; tiến hành thực nghiệm tác động nhóm giám sát.
- Mô tả cơ cấu khách thể khảo sát: Mẫu chính thức gồm 75 NLTVTL tại TP. Hồ Chí Minh (thuộc các trung tâm tham vấn, bệnh viện, trường học theo Bảng 1.1); nhóm chuyên gia hỗ trợ gồm 12 người (tại Pháp, Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh) và 3 thân chủ.
- Xây dựng hệ thống công cụ đo lường gồm bảng hỏi cấu trúc hóa, bảng tiêu chí đánh giá hành vi, kịch bản phỏng vấn sâu và quy trình sinh hoạt nhóm giám sát phục vụ thực nghiệm.
Chương 3: Thực trạng tự điều chỉnh xúc cảm của người làm tham vấn tâm lý
Chương này trình bày toàn bộ kết quả khảo sát thực trạng và thực nghiệm tác động:
- Thực trạng trải nghiệm xúc cảm: NLTVTL thường xuyên phải đối mặt với các xúc cảm tiêu cực trong công việc như lo lắng, buồn bã, thất vọng, bất an, sợ hãi trước những câu chuyện bế tắc của thân chủ (Bảng 3.1, Biểu đồ 3.1, Biểu đồ 3.2).
- Thực trạng mức độ TĐCXC: Mức độ TĐCXC chung của NLTVTL đạt mức tương đối phù hợp (Biểu đồ 3.3).
- Về mặt nhận thức (Bảng 3.2, Bảng 3.3, Biểu đồ 3.4): Phần lớn NLTVTL nắm được các yêu cầu xúc cảm cơ bản trong nghề nghiệp, song tỷ lệ nhận biết đúng cách xử lý khi xuất hiện hiện tượng chuyển dịch (transference) và chuyển dịch ngược (countertransference) còn rất thấp.
- Về mặt hành vi (Bảng 3.4, Bảng 3.5, Biểu đồ 3.5, Biểu đồ 3.6): Phần lớn hành vi TĐCXC của NLTVTL ở mức tương đối phù hợp, tỷ lệ đạt mức phù hợp hoàn toàn còn ít. Trong 4 nhóm cách TĐCXC, nhóm điều chỉnh nhận thức được NLTVTL lựa chọn nhiều nhất, tiếp theo là nhóm chia sẻ xã hội.
- Các yếu tố tác động (Bảng 3.8, Bảng 3.9): Trong các yếu tố được phân tích, trình độ đào tạo chuyên môn và sự giám sát của nhà chuyên môn là hai yếu tố có tác động mạnh nhất và có ý nghĩa thống kê đối với mức độ TĐCXC của NLTVTL.
- Phân tích chân dung tâm lý: Khắc họa chi tiết các trường hợp NLTVTL điển hình ở các mức độ tự điều chỉnh khác nhau nhằm làm rõ cơ chế diễn biến tâm lý trong thực tế làm việc.
- Kết quả thực nghiệm tác động (Bảng 3.10): Kiểm chứng trước và sau thực nghiệm cho thấy việc tham gia nhóm giám sát chuyên môn định kỳ đã cải thiện rõ rệt mức độ TĐCXC của NLTVTL, nâng cao khả năng nhận diện và xử lý cảm xúc tiêu cực.
Hệ thống bảng và biểu đồ dữ liệu chính trong luận án được tổng hợp như sau:
| Ký hiệu | Tên bảng / Biểu đồ | Vị trí trang | Nội dung dữ liệu phản ánh |
|---|---|---|---|
| Bảng 1.1 | Phân bố khách thể tham gia nghiên cứu | 87 | Cơ cấu 75 NLTVTL theo đơn vị công tác (trung tâm, bệnh viện, trường học) |
| Bảng 3.1 | Trải nghiệm xúc cảm của NLTVTL trong các tình huống | 90 | Tần suất và mức độ xuất hiện các xúc cảm tiêu cực trong quá trình tham vấn |
| Bảng 3.2 | Nhận thức của NLTVTL về yêu cầu xúc cảm trong công việc của họ | 97 | Mức độ hiểu biết về chuẩn mực và kiểm soát xúc cảm nghề nghiệp |
| Bảng 3.3 | Nhận thức của NLTVTL về hiệu quả của các cách TĐCXC trong công việc | 99 | Đánh giá tính hữu ích của từng nhóm cách thức TĐCXC |
| Bảng 3.4 | TĐCXC thể hiện ở hành vi của NLTVTL trong công việc | 104 | Tần suất và mức độ biểu hiện hành vi điều chỉnh cảm xúc thực tế |
| Bảng 3.5 | TĐCXC thể hiện ở mặt hành vi của NLTVTL thông qua việc lựa chọn cách TĐCXC trong công việc | 109 | So sánh sự ưu tiên giữa 4 nhóm cách TĐCXC |
| Bảng 3.8 | So sánh mức độ TĐCXC của NLTVTL theo trình độ đào tạo | 114 | Tương quan giữa trình độ chuyên môn và năng lực TĐCXC |
| Bảng 3.9 | Những yếu tố xã hội tác động đến TĐCXC của NLTVTL | 116 | Phân tích tác động của giám sát, đồng nghiệp, áp lực công việc |
| Bảng 3.10 | Kết quả tự điều chỉnh xúc cảm của người làm tham vấn tâm lý trước và sau thực nghiệm | 125 | So sánh điểm đánh giá năng lực TĐCXC trước và sau khi tham gia nhóm giám sát |
| Biểu đồ 3.1 | Tần suất biểu hiện xúc cảm của NLTVTL | 92 | Phân bố tỷ lệ các trạng thái cảm xúc tiêu cực |
| Biểu đồ 3.2 | Trải nghiệm xúc cảm của NLTVTL liên quan đến thái độ thân chủ và vấn đề của thân chủ | 93 | Mối liên hệ giữa tình huống thân chủ và cảm xúc của NLTVTL |
| Biểu đồ 3.3 | Mức độ TĐCXC của NLTVTL trong công việc | 95 | Tỷ lệ phân bố mức độ TĐCXC chung của khách thể |
| Biểu đồ 3.4 | TĐCXC của NLTVTL thể hiện ở mặt nhận thức | 96 | Phân bố mức độ nhận thức về TĐCXC |
| Biểu đồ 3.5 | TĐCXC thể hiện ở hành vi của NLTVTL trong công việc | 103 | Phân bố mức độ thực hiện hành vi TĐCXC |
| Biểu đồ 3.6 | TĐCXC thể hiện ở hành vi của NLTVTL được xét theo nhóm cách TĐCXC | 106 | Tỷ lệ lựa chọn giữa 4 nhóm cách TĐCXC |
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận:
- Luận án đã làm rõ và hoàn thiện định nghĩa khái niệm tự điều chỉnh xúc cảm của người làm tham vấn tâm lý gắn liền với bối cảnh hoạt động nghề nghiệp trợ giúp.
- Xây dựng thành công mô hình cấu trúc tâm lý của TĐCXC ở NLTVTL gồm hai thành tố thống nhất: mặt nhận thức (nhận thức yêu cầu xúc cảm nghề nghiệp, nhận biết xúc cảm phù hợp/không phù hợp trong tình huống cụ thể) và mặt hành vi (lựa chọn, thực hiện cách TĐCXC và đánh giá hiệu quả của cách thức đã sử dụng).
Đóng góp mới về mặt thực tiễn:
- Phản ánh bức tranh thực trạng về trải nghiệm xúc cảm và năng lực TĐCXC của đội ngũ NLTVTL tại TP. Hồ Chí Minh: mức độ TĐCXC chung chỉ đạt mức tương đối phù hợp; trong 4 nhóm cách TĐCXC, nhóm điều chỉnh nhận thức được lựa chọn nhiều nhất; nhận thức về chuyển dịch và chuyển dịch ngược còn hạn chế.
- Xác định rõ trong các yếu tố tác động, trình độ chuyên môn và sự giám sát của nhà chuyên môn là hai yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến năng lực TĐCXC của NLTVTL.
- Chứng minh bằng thực nghiệm tác động rằng việc tổ chức cho NLTVTL tham gia đều đặn vào các nhóm giám sát chuyên môn cùng chuyên gia và đồng nghiệp là biện pháp hữu hiệu giúp cải thiện rõ rệt mức độ TĐCXC của họ.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất:
- Đưa nội dung giáo dục, rèn luyện năng lực TĐCXC vào chương trình đào tạo chính quy và các khóa bồi dưỡng chuyên môn cho người làm công tác tham vấn tâm lý.
- Xây dựng và duy trì mô hình nhóm giám sát chuyên môn định kỳ tại các bệnh viện, trường học và trung tâm tham vấn nhằm hỗ trợ, nâng đỡ xúc cảm cho chuyên viên tham vấn trong quá trình hành nghề.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Phạm vi nội dung nghiên cứu chỉ giới hạn ở việc tìm hiểu các xúc cảm tiêu cực trong công việc của NLTVTL, chưa mở rộng sang các dạng xúc cảm tích cực hoặc các khía cạnh cảm xúc ngoài môi trường công tác.
- Địa bàn khảo sát thực trạng đối với khách thể chính mới chỉ tập trung tại TP. Hồ Chí Minh với quy mô mẫu 75 người làm tham vấn tâm lý, chưa khảo sát trên diện rộng ở các khu vực địa lý khác nhau.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi và quy mô khách thể nghiên cứu trên phạm vi toàn quốc để nâng cao tính đại diện cho kết quả khảo sát thực trạng.
- Nghiên cứu sâu hơn về các cơ chế tâm lý và kỹ thuật chuyên biệt trong việc nhận diện và xử lý hiện tượng chuyển dịch (transference) và chuyển dịch ngược (countertransference) trong tiến trình tham vấn tâm lý.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho nhiều đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Tâm lý học (đặc biệt là Tâm lý học tham vấn và Tâm lý học lâm sàng): Luận án cung cấp hệ thống khung lý luận chuẩn xác về tự điều chỉnh xúc cảm, cơ chế thần kinh học của cảm xúc và mô hình đo lường TĐCXC.
- Đối với người làm thực hành tham vấn tâm lý: Giúp nhận diện các triệu chứng quá tải cảm xúc, hiểu rõ các cách thức điều chỉnh nhận thức và chia sẻ xã hội để bảo vệ sức khỏe tâm thần nghề nghiệp.
- Đối với các nhà quản lý, cơ sở đào tạo và cơ quan hoạch định chính sách: Luận án cung cấp luận cứ khoa học để xây dựng chuẩn kỹ năng nghề nghiệp tham vấn tâm lý và thiết lập quy trình giám sát chuyên môn (supervision) bắt buộc tại các cơ sở thực hành tham vấn.
Câu hỏi thường gặp
-
Mục tiêu nghiên cứu chính của luận án là gì? Mục tiêu của luận án là phát hiện thực trạng tự điều chỉnh xúc cảm của người làm tham vấn tâm lý và một số yếu tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất và thực nghiệm biện pháp cải thiện mức độ tự điều chỉnh xúc cảm của họ thông qua tổ chức nhóm giám sát chuyên môn.
-
Cấu trúc tâm lý của tự điều chỉnh xúc cảm ở người làm tham vấn tâm lý gồm những thành phần nào? Cấu trúc tâm lý gồm 2 mặt:
- Mặt nhận thức: Nhận thức yêu cầu xúc cảm trong công việc để định hướng hành vi; nhận biết xúc cảm phù hợp hoặc không phù hợp trong tình huống cụ thể (như khi có hiện tượng chuyển dịch và chuyển dịch ngược).
- Mặt hành vi: Biết lựa chọn, thực hiện các cách tự điều chỉnh xúc cảm và biết đánh giá tính hiệu quả của cách thức đang sử dụng.
-
Khách thể nghiên cứu của luận án gồm những ai và ở đâu? Khách thể nghiên cứu chính gồm 75 người làm tham vấn tâm lý tại các trung tâm tham vấn, bệnh viện và trường học tại TP. Hồ Chí Minh. Khách thể hỗ trợ gồm 12 chuyên gia, giảng viên giảng dạy tham vấn tại Pháp, Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và 3 thân chủ.
-
Trong 4 nhóm cách tự điều chỉnh xúc cảm, nhóm nào được người làm tham vấn tâm lý lựa chọn nhiều nhất? Trong 4 nhóm cách (điều chỉnh tình huống gây xúc cảm, điều chỉnh nhận thức, điều chỉnh biểu hiện xúc cảm, chia sẻ xã hội), nhóm cách điều chỉnh nhận thức được người làm tham vấn tâm lý lựa chọn nhiều nhất, tiếp theo là nhóm chia sẻ xã hội.
-
Những yếu tố nào có tác động mạnh nhất đến mức độ tự điều chỉnh xúc cảm của người làm tham vấn tâm lý? Trong các yếu tố được nghiên cứu (giới tính, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm thực tế, sự hài lòng công việc, sự giám sát của nhà chuyên môn, sự hỗ trợ của đồng nghiệp, đào tạo bồi dưỡng thường xuyên, áp lực công việc), trình độ chuyên môn và sự giám sát của nhà chuyên môn là hai yếu tố có tác động mạnh nhất.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Võ Thị Tường Vy đã giải quyết một vấn đề vừa mang tính lý luận sâu sắc, vừa đáp ứng yêu cầu cấp thiết của thực tiễn hoạt động tham vấn tâm lý tại Việt Nam. Bằng việc phối hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu lý luận, khảo sát thực trạng trên 75 người làm tham vấn tâm lý và tiến hành thực nghiệm tác động, luận án đã làm sáng tỏ cấu trúc tâm lý, thực trạng mức độ TĐCXC cũng như các yếu tố ảnh hưởng chủ yếu. Kết quả nghiên cứu khẳng định mô hình nhóm giám sát chuyên môn là giải pháp thực tiễn hiệu quả giúp nâng cao năng lực tự điều chỉnh xúc cảm cho người làm tham vấn tâm lý, đồng thời cung cấp tài liệu tham khảo quan trọng cho công tác đào tạo và thực hành tham vấn tâm lý hiện nay.