Mở đầu Chương 2: Tổng quan nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận 12 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Giả thuyết thị trường hiệu quả Giả thuyết thị trường hiệu quả (Efficient Market Hypothesis - EMH) đã được Fama (1970) định nghĩa dựa trên nguyên tắc: sự cạnh tranh giữa các nhà đầu tư trên thị trường đều có cùng mục đích là tối đa hóa lợi nhuận của mình và một thị trường được coi là hiệu quả khi giá cả luôn được phản ánh đầy đủ bởi các thông tin có sẵn. Thị trường hiệu quả luôn tồn tại một cơ chế điều chỉnh thị trường về trạng thái cân bằng, khi giá của tài sản không phản ánh một cách chính xác giá trị hợp lý (dựa trên những yếu tố cơ bản), thì “những nhà đầu tư hợp lý” sẽ tận dụng cơ hội này để mua tài sản định giá thấp, bán chúng với định giá quá cao. Hành động này sẽ góp phần điều chỉnh thị trường về trạng thái cân bằng.2 Lý thuyết tài chính hành vi Tuy nhiên trong thực tế các hiện tượng trên thị trường chứng khoán hay thị trường tiền mã hóa và hành vi của nhà đầu tư không thể giải thích thỏa đáng dựa trên giả thuyết thị trường hiệu quả. Nghĩa là sẽ có trường hợp “những nhà đầu tư hợp lý” sẽ không thể thu về lợi nhuận bằng “những nhà đầu tư bất hợp lý”.
Đó là thời điểm thị trường không hiệu quả, biểu hiện ở tài sản được định giá quá cao (hoặc quá thấp). Một lý thuyết để giải thích cho nguyên nhân trên đó là lý thuyết tài chính hành vi (Behavioral Finance Theory). Tài chính hành vi nghiên cứu và giải thích những biểu hiện mang tính tâm lý của nhà đầu tư trên thị trường tài chính, sử dụng những kiến thức về tâm lý học, xã hội học và tài chính học để lý giải những hành vi bất thường của nhà đầu tư với nền tảng cơ bản là “thị trường không luôn luôn đúng”. Và vì vậy, một số hiện tượng xảy ra tại thị trường tài chính không thể được giải thích thỏa đáng theo lý thuyết thị trường hiệu quả nhưng lại có thể lý giải hợp lý dựa trên lý thuyết tài chính hành vi.
Điều này có nghĩa là hành vi nhà đầu tư bị ảnh hưởng bởi tâm lý đầu tư và sau đó ảnh hưởng đến các quyết định tài chính (Jacobsen và Marquering, 2008) 2.3 Tâm lý nhà đầu tư Tâm lý nhà đầu tư được gọi là sự hiểu sai của các nhà đầu tư do tâm trạng, cảm xúc và thái độ có thể dẫn đến việc định giá sai (Kaplanski & Levy, 2010). De Long và cộng sự (1990) chia các nhà đầu tư thành hai loại: các nhà giao dịch duy lý không có tình cảm và các nhà đầu tư phi lý với tình cảm ngoại sinh. Họ cho rằng tâm lý nhà đầu tư là một rủi ro cố hữu trong 13 mô hình giao dịch nhiễu, không có khả năng bị loại bỏ khỏi quá trình đầu tư. Baker và Wurgler (2006) định nghĩa tâm lý nhà đầu tư là xu hướng đầu cơ.
Họ nhận thấy rằng sự biến động của tâm lý nhà đầu tư có ảnh hưởng sâu sắc đến các tài sản nhỏ, non trẻ có tính biến động cao. Điều này tương tự khi nói đến tiền mã hóa hay chứng khoán. Khi tâm lý đầu tư thấp, những đồng tiền này có lợi nhuận sau đó tương đối cao và ngược lại. Do đó, họ xây dựng một chỉ số bằng cách kết hợp sáu đại diện tâm lý cơ bản và kết luận rằng các tài sản có giới hạn chênh lệch giá cao có nhiều khả năng bị ảnh hưởng bởi tâm lý.
Ngoài ra, các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy tâm lý nhà đầu tư có thể dẫn đến bong bóng thị trường, sau đó là sự mất giá lớn (Baker & Wurgler, 2006; Brown & Cliff, 2004). Sự sụp đổ bong bóng công nghệ năm 2000 va Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 làm nổi bật tầm ảnh hưởng đáng kể của tâm lý nhà đầu tư đối với giá tài sản. Về mặt lý thuyết, tâm lý nhà đầu tư phản ánh thái độ và tâm trạng của nhà đầu tư đối với rủi ro đầu tư trong tương lai. Tâm lý nhà đầu tư ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động giao dịch, từ đó gây định giá sai giá tài sản.
Các tài liệu hiện có ghi lại các chiến lược giao dịch có lợi nhuận dựa trên biến động giá cổ phiếu liên quan đến tâm lý nhà đầu tư (Stambaugh, Yu, & Yuan, 2012; Zhao, Yang, & Qian, 2015). Các chiến lược bất thường thường bao gồm mua (bán khống) cổ phiếu trong thời gian dài (hoặc ngắn), được coi là bị định giá thấp (hoặc được định giá quá cao). Xem xét mối lo ngại về xu hướng hồi quy giả, Stambauph, Yu và Yuan (2014) xác nhận sức mạnh dự đoán mạnh mẽ của tâm lý nhà đầu tư. Trong một nghiên cứu khác, Zhao và cộng sự (2015) xây dựng chỉ số tâm lý nhà đầu tư cho thị trường cổ phiếu hạng A của Trung Quốc theo tỉnh thần của Baker và cộng sự (2012) và báo cáo những phát hiện nhất quán với Stambaugh và cộng sự (2012).
Tuy nhiên, vẫn chưa rõ liệu việc định giá sai liên quan đến tình cảm có phải là lời giải thích một phần cho sự bất thường về định giá tài sản ở Úc hay không. Là một trong những thị trường tài chính hàng đầu trên thế giới, Sở giao dịch chứng khoán Úc (ASX) là một thị trường hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong nước và quốc tế (Chiah & Zhong, 2021). Điều tra mối quan hệ cơ bản giữa tâm ly nhà đầu tư và sự bất thường về định giá tài sản là có ích để làm phong phú thêm sự hiểu biết của nhà đầu tư về quá trình khám phá giá cổ phiếu và cung cấp cho các học viên những hiểu biết sâu sắc về việc tối ưu hóa quá trình đầu tư.2 Tính thanh khoản 2.1 Khái niệm Trong thị trường tài chính, tính thanh khoản là một khái niệm quan trọng, đặc biệt đối với các nhà đầu tư và người tham gia thị trường. Thanh khoản được coi là một thành phần quan trọng của sự phát triển thị trường tài chính vì nó ảnh hưởng đến chỉ phí giao dịch, quyết định đầu tư, hiệu quả thị trường, lợi nhuận kỳ vọng, chi phí vốn va phân bổ vốn giữa các khoản đầu tư cạnh tranh (Acharya & Pederson, 2005; Bekaert, Harvey, & Lundblad, 2007; Chordia, Roll, & Subrahmanyam, 2008; Lee, 2011; Pastor & Stambaugh, 2003; Wurgler, 2000; Zhu, Ash, & Pollin, 2004).
Tính thanh khoản đề cập đến khả năng mua bán một tài sản hoặc nghiệp vụ tài chính một cách nhanh chóng, hiệu quả và với chi phí thấp. Tính thanh khoản cao là một dấu hiệu cho thấy tài sản hoặc nghiệp vụ tài chính đó được nhiều người quan tâm và có sẵn sàng mua bán. Với sự phát triển của công nghệ blockchain, tiền mã hóa đã trở thành một tài sản đầu tư hấp dẫn đối với nhà đầu tư. Tính thanh khoản của tiền mã hóa đóng một vai trò quan trọng đối với giá trị của nó.
Khi một đồng tiền có tính thanh khoản cao, người dùng có thể dễ dàng mua và bán đồng tiền này trên thị trường với giá hợp lý và chi phí giao dịch thấp. Ngược lại, khi đồng tiền điện tử có tính thanh khoản thấp, người dùng sẽ gặp khó khăn khi mua bán đồng tiền này, dẫn đến giá trị của đồng tiền này giảm. Brigham và Michael C. Ehrhardt: "Tinh thanh khoản là kha năng của một tài san được chuyển đổi thành tiền mat một cách nhanh chóng mà không gây anh hưởng đáng kể đến giá cả.
Tính thanh khoản cung cấp sự linh hoạt và khả năng tiếp cận đối với các tài sản tài chính. Nó giúp đảm bảo rằng nhà đầu tư có khả năng bán tài sản và chuyển đổi thành tiền mặt khi cần thiết mà không ảnh hưởng đáng kể đến giá cả." Qua đó, tính thanh khoản không chỉ là yếu tố quan trọng trong việc xác định giá trị và sự hấp dẫn của một tài sản, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính công bằng và hiệu quả của thị trường tài chính.2 Đặc điểm Về bản chất, tính thanh khoản rất khó đo lường vì nó bao gồm một số các thuộc tính của tài sản cơ sở (Kyle, 1985; Lesmond, 2005). Hầu hết các định nghĩa về tính thanh khoản đều có xu hướng định tính và mô tả, và có phần thay đổi trong các bối cảnh khác nhau. Tính thanh khoản là một cấu trúc tiềm ẩn được quan sát thấy trong các phép đo, nhưng bản thân nó không thể đo lường trực tiếp.3 Tổng quan về thị trường tiền mã hóa Tiền mã hóa, có tên thuật ngữ trong Tiếng Anh là “Cryptocurrencies”.
Định nghĩa về tiền mã hóa của Ngân hàng Trung ương Châu Âu (The European Central Bank - ECB) là một bộ phận thuộc tiền ảo (Virtual currencies), là hình thức thể hiện điện tử của giá trị, không do tổ chức tín dụng, ngân hàng trung ương phát hành và trong một số trường hợp, chúng có thể sử dụng để thay cho tiền pháp định (ECB, 2015). Theo Ngân hàng Thế giới (World Bank -WB) phân loại tiền mã hóa thuộc nhóm tiền kỹ thuật số (digital currencies) và “tiền mã hóa là biểu thị điện tử của giá trị, được ghi nhận theo đơn vị thanh toán của riêng nó trong các tài khoản giao dịch, khấc với các dạng thức tiền mã hóa (e-money) - các cơ chế thanh toán số” (Houben & Snyers, 2018). Tuy có sự khác nhau nhất định trong các 17 cơ quan pháp ý hay các nghiên cứu, tiền mã hóa có thể định nghĩa một cách khái quát như sau: (1) Là một hình thức biểu thị điện tử của giá trị, (2) Quản lý phi tập trung, (3) Không do cơ quan pháp lý nhà nước hay NHTW ban hành, (4) Có những chức năng nhất định của tiền tệ như phương tiện thanh toán, trao đổi và dự trữ nhưng không mang giá trị pháp lý tại bất kỳ quốc gia, khu vực nào, (5) Hoạt động trên nền tang chuỗi khối Blockchain. Tiền mã hóa thường được coi là một loại tài sản mới phản ánh cổ phần trong tương lai của công nghệ chuỗi khối, đồng thời được thiết kế như một phương tiện trao đổi (Baur, Hong, & Lee, 2018; Corbet, Lucey, Urquhart, & Yarovaya, 2019; Li, Shin, & Wang, 2020; Makarov & Schoar, 2020).
Theo Hu, Parlour và Rajan (2019), một trong số các đồng tiền này thậm chí có thể được đưa vào tài khoản hưu trí cá nhân. Do đó, các yếu tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của chúng là chủ đề được cả giới học thuật và chuyên gia trong ngành quan tâm (ví dụ: Liu, Liang, & Cui, 2020).