Chương 1 : Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về tâm lý bầy đàn của nhà đầu tư cá nhân - Chương 2 : Phương pháp nghiên cứu - Chương 3 : Kết quả nghiên cứu - Chương 4 : Kết luận và kiến nghị nghiên cứu 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÂM LÝ BẦY ĐÀN CỦA NHÀ ĐẦU TƢ CÁ NHÂN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về tâm lý bầy đàn của nhà đầu tƣ cá nhân 1. Tổng quan nghiên cứu nước ngoài Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm về tâm lý bầy đàn của các nhà đầu tư. Những phương pháp tiếp cận đư c coi như là nền tảng phát triển cho những nghiên cứu sau này đã đư c sử dụng trong việc kiểm định hành vi bầy đàn trên thị trường tài chính bao gồm: Shiller và Pound (1986) đã sử dụng phương pháp khảo sát để kiểm tra sự hiện diện của tâm lý bầy đàn đối với nhà đầu tư tổ chức.
Họ nhận thấy rằng hầu hết các nhà đầu tư đã dựa vào lời khuyên của các chuyên gia khi đưa ra quyết định đầu tư. Christie và Huang (1995) kiểm tra sự hiện diện của tâm lý bầy đàn trong l i nhuận cổ phiếu bằng cách sử dụng dữ liệu hàng ngày của NYS và mex t tháng 7 năm 1962 đến tháng 12 năm 1988 và số liệu hàng tháng của công ty NYS t tháng 12 năm 1925 đến tháng 12 năm 1988. Mô hình của họ đư c dựa trên giả thuyết độ lệch chu n của tỉ suất sinh l i, đo lường sự phân tán của tỷ suất sinh l i, sẽ tương đối thấp khi các nhà đầu tư cá nhân có xu hướng bỏ đánh giá riêng của họ mà ủng hộ theo sự đồng thuận của thị trường. Mô hình này phân biệt giữa thị trường chứng khoán bình thường và biến động mạnh và giả định rằng nhà đầu tư có xu hướng theo bầy đàn trong trường h p sau.
Họ cho rằng khi có bầy đàn – tức là khi nhà đầu tư đưa ra quyết định theo người khác mà bỏ qua quan điểm hoặc thông tin cá nhân – tỷ suất sinh l i của t ng cổ phiếu sẽ không chệch đáng kể so với tỷ suất sinh l i của toàn thị trường, thể hiện ở giá trị độ lệch chu n dữ liệu chéo nhỏ hơn mức bình thường. Christie và Huang áp dụng mô hình này lên thị trường chứng khoán Mỹ năm 1995 và đã tìm thấy chứng cứ có sự hiện diện của hành vi bầy đàn trên thị trường này. Christie và Huang là người tiên phong trong việc sử dụng phân tích kinh tế với hướng tiếp cận thị trường rộng để phát hiện hành vi bầy đàn trên thị trường chứng khoán. Hầu hết các nghiên cứu mới nhất vẫn sử dụng phương pháp 4 này hoặc các phương pháp khác đư c mở rộng thêm dựa trên lý thuyết của Christie và Huang.
Nofsinger và SI (1999) sử dụng phương pháp riêng và cho thấy tâm lý bầy đàn đang thực sự tồn tại trên thị trường Mỹ khi họ tìm thấy có một mối tương quan mạnh mẽ giữa sự thay đổi quyền sở hữu về thể chế và tỷ suất sinh l i vư t quá so với cùng k trên thị trường. Những phát hiện này cung cấp bằng chứng rằng có một mức độ rõ ràng của tâm lý bầy đàn giữa các nhà đầu tư, tổ chức trong thị trường Mỹ. Nghiên cứu của Chang và cộng sự (2000) sử dụng cách tiếp cận để kiểm tra tâm lý bầy đàn. Mô hình của họ có tính đến các mối quan hệ phi tuyến tính giữa sự phân tán l i nhuận tài sản cá nhân và l i nhuận của một danh mục đầu tư thị trường.
Không giống như Christie và Huang (1995), họ đã sử dụng độ lệch tuyệt đối của tỷ suất sinh l i (CS ) như một thước đo sự phân tán. iện pháp này đòi hỏi việc sử dụng mô hình C PM để ước tính rủi ro hệ thống beta theo thời gian, để tính toán giá trị độ lệch tuyệt đối. Họ sử dụng giá cổ phiếu hàng ngày và chuỗi tỷ suất sinh l i theo thời gian, cùng với vốn hóa thị trường cuối năm cho mỗi công ty và chỉ số tỷ suất sinh l i có trọng số, để điều tra hành vi của những người tham gia thị trường ở nhiều thị trường quốc tế có liên quan đặc biệt liên quan đến xu hướng tâm lý bầy đàn của họ. Không có bằng chứng về tâm lý bầy đàn trên một phần của thị trường Hồng Kông và Mỹ trong khi một phần bằng chứng đã đư c tìm thấy ở Nhật Bản.
ặc biệt, họ đã phát hiện tâm lý bầy đàn rõ ràng trong hai thị trường mới nổi-Hàn Quốc và ài Loan. Theo Chang và cộng sự (2000), có ba lý do chính tại sao tâm lý bầy đàn thể hiện rõ ở Hàn Quốc và ài Loan, khác với Mỹ và Hồng Kông. Thứ nhất, sự can thiệp của chính phủ có thể dẫn đến sự khác biệt hành vi bầy đàn giữa các nước. Những hành động này có thể bao gồm cả những thay đổi tương đối thường xuyên trong chính sách tiền tệ hoặc những lệnh mua và bán trực tiếp lớn trong thị trường tài chính mới nổi.
Thứ hai, sự khác biệt bầy đàn có lẽ là kết quả của một tình trạng khan hiếm thông tin nhanh chóng và chính xác trong các thị trường này. Tình trạng thiếu thông tin cần thiết về các công ty này có thể gây ra các nhà đầu tư tập trung hơn vào các tín hiệu kinh tế vĩ mô. Cuối cùng, sự hiện diện tại Hàn 5 Quốc và ài Loan của nhiều nhà đầu cơ với tầm nhìn đầu tư tương đối ngắn đư c cho là kết quả trong một số loại thông tin không hiệu qủa, có thể là khởi đầu của tâm lý bầy đàn. Lihara và các cộng sự (2001) nghiên cứu tâm lý bầy đàn quan sát trong ba nhóm các nhà đầu tư - cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước, trong các thị trường chứng khoán Tokyo (TS ) bằng cách sử dụng phương pháp tiếp cận của Nofsinger và SI (1999).
Phát hiện của họ cho thấy rằng các nhà đầu tư cá nhân và tổ chức Nhật Bản có nhiều khả năng tham gia xu hướng bầy đàn, trong khi quyết định đầu tư các nhà đầu tư nước ngoài có xu hướng dựa trên thông tin. Vì vậy, kết quả của họ là phù h p với Nofsinger và SI (1999). Theo sau những nghiên cứu tương tự của Christie và Huang (1995), emirer và Kutan (2006) đã kiểm tra bầy đàn tại các thị trường Trung Quốc, sử dụng các công ty cá nhân cũng như dữ liệu ở cấp ngành. Tương tự như Christie và Huang (1995), emirer và Kutan (2006) kết luận rằng cả l i nhuận hàng ngày và hàng tháng không thấy sự hiện diện của bầy đàn trong thời k biến động giá lớn.
Sử dụng một phương pháp khác, Kallinterakis (2007) đã kiểm tra tâm lý bầy đàn trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu chéo độ phân tán beta của các nhà đầu tư cá nhân trên thị trường để tìm hiểu xem liệu tâm lý bầy đàn có tồn tại. Ông cho rằng những thành kiến về hành vi có thể dẫn đến một sự bóp méo nhận thức của nhà đầu tư về mối quan hệ rủi ro tỷ suất sinh l i đối với tài sản của họ. Nếu các nhà đầu tư theo "bầy đàn", tỷ suất sinh l i tài sản cá nhân có thể thay đổi với sự chỉ đạo của thị trường.
Kết quả là, beta của một cổ phiếu sẽ di chuyển ra khỏi vị trí cân bằng của nó và biến động cùng với những biến đổi trong tâm lý nhà đầu tư. Trên cơ sở của lập luận này, một thị trường cụ thể sẽ đư c xem xét để kiểm định lý thuyết tài chính hành vi nếu mức độ phân tán của beta cổ phiếu có giá trị nhỏ hơn (các beta tài sản có xu hướng hội tụ về một điểm thống nhất hoặc beta của thị trường). Kallinterakis chọn sử dụng dữ liệu hàng tháng để giảm sai số ước lư ng của beta cũng như để đảm bảo đủ các quan sát để phát hiện tâm lý bầy đàn. Ông đã tìm thấy bằng chứng 6 về sự hiện diện của tâm lý bầy đàn đáng kể trong thị trường Việt Nam.
Kallinteratis kết luận rằng giao dịch mỏng có tác dụng tích cực đối với tâm lý bầy đàn do có thể bị ảnh hưởng bởi một sự chậm trễ trong việc thực hiện các giao dịch mua bán có thể dễ dàng quan sát thấy trong các thị trường có tính thanh khoản kém như ở Việt Nam. Như một vấn đề thực tế, thị trường chứng khoán Việt Nam phụ thuộc vào một số giới hạn về sự tham gia, chẳng hạn như hạn chế nhập cảnh cho các nhà đầu tư nước ngoài, hạn chế kinh doanh và những rào cản thị trường. Ông lập luận rằng thiếu tính thanh khoản đáng kể trong thị trường mới nổi có thể gây ra tần số thấp hơn trong việc thực hiện các giao dịch so với các thị trường vốn phát triển. Như vậy, sự tích tụ của dư mua/ dư bán trong suốt những ngày giao dịch có thể xảy ra, dẫn đến một khả năng lớn hơn sự biến động của bầy đàn mua / bán vào những ngày như vậy.
Phù h p với cách tiếp cận của Chang và cộng sự (2000), Tan và cộng sự (2008) đã nghiên cứu đặc điểm tâm lý bầy đàn trong việc niêm yết kép cổ phiếu A và tại thị trường Trung Quốc. Tuy nhiên, phương pháp đo sự phân tán của tỷ suất sinh l i trong trường h p này là khác của Chang và cộng sự. Tan và cộng sự (2008) sử dụng các tính toán độ lệch chu n thông qua Christie và Huang (1995) khi họ xem xét tính chính xác của các ước lư ng beta của Chang và cộng sự đề xuất (2000). Họ kiểm tra sự tồn tại của tâm lý bầy đàn trong cả cổ phiếu và của Trung Quốc, trong cả thị trường Thư ng Hải và Thâm Quyến.
Ngoài ra, họ cũng xem xét ảnh hưởng bất đối xứng của bầy đàn trong những điều kiện khác nhau của tỷ suất sinh l i thị trường, khối lư ng giao dịch và biến động thị trường. Kết quả là, họ chứng minh tâm lý bầy đàn của các nhà đầu tư cổ phiếu trên thị trường Thư ng Hải tăng lên trong điều kiện thị trường lên, khối lư ng giao dịch lớn và biến động lớn trong khi không có kết quả rõ ràng khi nghiên cứu cổ phiếu B.