CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TÂM LÝ NHÀ ĐẦU TƯ ĐẾN BIẾN ĐỘNG GIÁ CỔ PHIẾU 1. Cơ sở lý thuyết về tâm lý nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán 1. Chứng khoán và thị trường chứng khoán Theo Nguyễn Thanh Phương (2017), chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện bằng hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử.
Theo Luật Chứng khoán Việt Nam (2019), chứng khoán là tài sản, bao gồm các loại sau đây: − Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ − Chứng quyền, chứng quyền có bảo đảm, quyền mua cổ phần, chứng chỉ lưu ký − Chứng khoán phái sinh − Các loại chứng khoán khác do Chính phủ quy định Chứng khoán là một loại hàng hóa đặc biệt do mặc dù là hàng hóa trừu tượng nhưng có thể được trao đổi mua bán, thỏa thuận và định giá. Cũng theo Nguyễn Thanh Phương (2017), TTCK là nơi diễn ra các giao dịch trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán qua đó thay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán. Trong đó, TTCK được chia làm 2 loại: thị trường sơ cấp, thị trường thứ cấp và các chủ thể trên TTCK gồm: - Các nhà phát hành - Nhà đầu tư - Các tổ chức tài chính khác trên thị trường. TTCK có vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế khi được coi là “phong vũ biểu” phản ánh kỳ vọng kinh tế của một đất nước trong tương lai gần.
Theo nhiều nhà phân tích, TTCK thường đi trước nền kinh tế 6 tháng. Chính vì thế, khi TTCK có xu hướng vận động đi lên thì nền kinh tế cũng có xu hướng phát triển cũng chiều. Ngược lại, nếu TTCK vận động giảm sẽ dự báo xu hướng nền kinh tế phát triển chậm lại và yếu đi trong tương lai. Bên cạnh đó, đây còn là kênh huy động vốn giá rẻ, hiệu quả của các doanh nghiệp niêm yết.
Đồng thời việc được niêm 5 yết trên SGDCK sẽ tạo ra uy tín và cho thấy tiềm lực của doanh nghiệp. Vì để được niêm yết trên sàn, doanh nghiệp phải trải qua các quy định niêm yết theo Luật quy định như đảm bảo về thời gian hoạt động, kết quả hoạt động kinh doanh, giá trị vốn điều lệ,… Không chỉ thế, TTCK có khả năng cung cấp môi trường đầu tư hợp pháp và là kênh đầu tư kỳ vọng mang lại hiệu quả cao cho các NĐT. Ở trên TTCK, NĐT có thể tham gia thực hiện các hoạt động mua bán chứng khoán nên TTCK còn có tác dụng tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán. Tâm lý nhà đầu tư 1.
Khái niệm Nhà đầu tư Luật Chứng khoán (2019) cho rằng “nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán”. Mở rộng hơn, Luật đầu tư năm 2020 sau khi kế thừa và sửa đổi các điều khoản ở Luật đầu tư năm 2005 và năm 2014, đã đưa ra định nghĩa: “Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh, gồm nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”. Cụ thể hơn đối với NĐT trên TTCK, đó có thể là bất kỳ cá nhân hay tổ chức đầu tư vào các kế hoạch tài chính, các dạng tài sản khác nhau như cổ phiếu, trái phiếu, quyền chọn, hợp đồng tương lai,… với kỳ vọng mang lại lợi nhuận tài chính. NĐT không chỉ là 1 trong những nhân tố quan trọng hình thành nên TTCK mà còn có ảnh hưởng lớn đến sự vận động của thị trường.
Các doanh nghiệp được niêm yết trên SGDCK có thể huy động vốn thông qua các hình thức nắm giữ hoặc mua cổ phiếu hay trái phiếu cho NĐT. Việc huy động vốn sẽ giúp doanh nghiệp cải thiện cơ sở hạ tầng, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, gia tăng quy mô sản xuất và thị trường của công ty. Bên cạnh đó, quyết định mua hay bán hoặc nắm giữ chứng khoán của NĐT cũng góp phần vào ổn định của TTCK khi mỗi quyết định đầu tư có thể ảnh hưởng đến sự tăng giảm của cổ phiếu. Khái niệm tâm lý nhà đầu tư Hiện nay, tâm lý NĐT được hiểu theo nhiều cách khác nhau.
Dejong và các cộng sự (1990) đã đưa ra một khái niệm phổ biến và sử dụng rộng rãi về vấn đề này. Tâm lý NĐT là kỳ vọng của người tham gia thị trường vào dòng tiền tương lai (hay lợi nhuận) và rủi ro không được chứng minh bằng thông tin kinh tế và tài chính. 6 Barberis và các cộng sự (1998) thì cho rằng đó là niềm tin được NĐT hình thành và dẫn đến trạng thái thờ ơ hay phản ứng thái quá ở cổ phiếu. Mỗi NĐT khác nhau sẽ có 1 niềm tin khác nhau.
Theo Baker và Wurgler (2006), nhìn chung, tâm lý NĐT là thái độ lạc quan hoặc bi quan về cổ phiếu. Mặc dù cách diễn đạt định nghĩa tâm lý có khác nhau nhưng bản chất của chúng là như nhau. Đó đều là niềm tin và nhận định của NĐT về xu hướng trong tương lai của tài sản tài chính. Trong quá khứ, các lý thuyết tài chính truyền thống coi rằng các hành vi của NĐT không bị ảnh hưởng bởi yếu tố tâm lý.
Tuy nhiên trong lý thuyết TCHV đã cho thấy có nhiều yếu tố tâm lý có liên quan đến hành vi của NĐT trên TTCK và những yếu tố này được cho là một nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu. Cơ sở lý thuyết về biến động giá cổ phiếu 1. Cổ phiếu Hiện nay, chứng khoán được giao dịch phổ biến nhất trên TTCK là cổ phiếu. Theo luật chứng khoán Việt Nam (2019), “Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành”.
Cổ phiếu chỉ được phát hành tại các công ty cổ phần (CTCP). Hay nói cách khác, cổ phiếu chính là bằng chứng xác nhận số tiền NĐT đã dùng để góp vốn vào CTCP. NĐT nắm giữ cổ phiếu sẽ trở thành cổ đông đồng thời là chủ sở hữu của công ty và sở hữu các quyền cổ đông tương ứng với tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu Khi xem xét cổ phiếu của CTCP, thường có sự phân biệt cổ phiếu được phép phát hành, cổ phiếu đã phát hành, cổ phiếu quỹ, cổ phiếu đang lưu hành. - Cổ phiếu được phép phát hành: Khi CTCP được thành lập, công ty đó được phép phát hành cổ phiếu để huy động vốn.
Nhưng theo luật, công ty phải đăng ký tổng số cổ phiếu của công ty, phải ghi trong điều lệ công ty và được gọi là cổ phiếu được phép phát hành hay cổ phiếu đăng ký. Cổ phiếu được phép phát hành là số lượng cổ phiếu tối đa của một công ty có thể phát hành từ lúc bắt đầu thành lập cũng như trong suốt quá trình hoạt động. Khi cần có sự thay đổi số lượng cổ phiếu được phép phát hành thì phải được đa số cổ đông bỏ phiếu tán thành và phải sửa đổi điều lệ công ty. - Cổ phiếu đã phát hành: 7 Đây là cổ phiếu mà công ty được bán ra cho các NĐT trên thị trường và công ty đã thu về được toàn bộ tiền bán số cổ phiếu đó, nó nhỏ hơn hoặc tối đa là bằng với số cổ phiếu được phép phát hành.
- Cổ phiếu quỹ: Đây là cổ phiếu đã được giao dịch trên thị trường và được chính tổ chức phát hành mua lại bằng nguồn vốn của mình. Số cổ phiếu này có thể được công ty lưu giữ một thời gian sau đó lại được bán ra; ở một số quốc gia, số cổ phiếu này không được bán ra mà phải hủy bỏ. Cổ phiếu quỹ không phải là cổ phiếu đang lưu hành, không có vốn đằng sau nó; do đó không được tham gia vào việc chia lợi tức cổ phần và không có quyền tham gia bỏ phiếu. - Cổ phiếu đang lưu hành: Cổ phiếu đang lưu hành là cổ phiếu đã phát hành, hiện đang lưu hành trên thị trường và do các cổ đông đang nắm giữ.
Số cổ phiếu đang lưu hành được xác định như sau: Số cổ phiếu đang lưu hành = Số cổ phiếu đã phát hành - Số cổ phiếu quỹ Trong trường hợp công ty có cả hai loại cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi, người ta sẽ xác định cụ thể cho từng loại một. Số cổ phiếu thường đang lưu hành là căn cứ quan trọng để phân chia lợi tức cổ phần trong công ty. Ngoài ra, dựa vào quyền lợi của cổ phiếu, có thể chia thành cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu phổ thông: - Cổ phiếu phổ thông (cổ phiếu thường): Cổ phiếu phổ thông là chứng chỉ thể hiện quyền sở hữu của cổ đông trong doanh nghiệp, cho phép cổ đông được hưởng những quyền lợi thông thường của doanh nghiệp cổ phần. - Cổ phiếu ưu đãi: Chứng chỉ xác nhận quyền lợi của NĐT trở thành cổ đông của doanh nghiệp, đồng thời cho phép NĐT được hưởng quyền lợi ưu đãi hơn cổ phiếu thường.
Các CTCP không nhất thiết phải phát hành cổ phiếu ưu đãi. Cổ phiếu ưu đãi được chia làm 3 loại chính bao gồm: Cổ phiếu ưu đãi cổ tức, cổ phiếu ưu đãi quyền biểu quyết, cổ phiếu ưu đãi hoàn lại. Ngoài ra còn có 1 loại nữa là: cổ phiếu ưu đãi khác do điều lệ công ty quy định. Biến động giá cổ phiếu Giá cổ phiếu được hiểu là số tiền bỏ ra để có thể sở hữu cổ phiếu.
Giá cổ phiếu sẽ có sự biến động vì giá phụ thuộc vào thị trường và nhu cầu mua bán của các NĐT. Do đó, biến động giá cổ phiếu có thể hiểu là sự thay đổi giá cổ phiếu trong một khoảng thời gian nhất định. Hay đây còn là lợi nhuận hoặc lỗ từ đầu tư cổ phiếu sau một khoảng thời gian. Độ biến động chứng khoán thường liên quan trực tiếp đến mức độ không chắc chắn hoặc rủi ro liên quan đến quy mô thay đổi trong giá trị của chứng khoán.
Độ biến động càng cao có nghĩa là giá trị của chứng khoán có thể rải ra trên một phạm vi giá trị rộng hơn. Sự biến động này có nghĩa là giá của chứng khoán có thể thay đổi đáng kể trong một khoảng thời gian ngắn theo một trong hai hướng. Trong trường hợp độ biến động thấp hơn thì giá của chứng khoán không thay đổi nhiều và có xu hướng ổn định hơn. Các lý thuyết liên quan 1.