Chương 1 khảo cứu các nghiên cứu cả trong và ngoài nước về tác động tiêu cực của hành vi đám đông, để chứng minh rằng sự tồn tại của hành vi đám đông tác động tiêu cực đến tính ổn định của thị trường, hay tác động từ đám đông nhà đầu tư sẽ đẩy giá cổ phiếu vượt xa định giá cơ bản, qua đó thấy được sự cần thiết của nghiên cứu. Từ đó đề xuất mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phương pháp thực hiện cho luận văn. Kết quả của nghiên cứu đóng góp một nguồn tham khảo đáng tin cậy cho nhà đầu tư cũng cơ quan quản lý để thị trường giao dịch hiệu quả hơn. Trang 9 Chương 2: Tổng quan về cơ sở lý thuyết và các kết quả nghiên cứu trước có liên quan 2.
Lý thuyết về tài chính hành vi Barberis và Thaler (2005) đã hệ thống hóa các nghiên cứu về tài chính hành vi và đưa ra khái niệm cơ bản. Theo đó, tài chính hành vi là một lĩnh vực thuộc kinh tế học hành vi, nó dựa trên tâm lý học để đề xuất các lý thuyết, giải thích các sự kiện bất thường trên thị trường chứng khoán, ví dụ như sự tăng giảm không theo quy luật của giá cổ phiếu, các hành vi bán tháo của nhà đầu tư, hay đơn giản giá trị cổ phiếu bị định giá cao mặc dù doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả. Phần lớn các lý thuyết về kinh tế và tài chính truyền thống thường dựa trên giả định rằng hành động của nhà đầu tư là phù hợp với thị trường thông qua phân tích tất cả thông tin sẵn có trong quá trình ra quyết định. Trong khi đó, tài chính hành vi không dựa trên giả định này mà khám phá cách các nhà đầu tư thực sự hành động trên thị trường bằng cách cố gắng quan sát và giải thích.
Không phải ai cũng có đủ kiến thức cũng như thông tin để thực hiện các phân tích tổng hợp trước khi ra quyết định đầu tư hoặc khi có đủ thông tin thì nỗ lực phân tích cũng sẽ tốn rất nhiều thời gian và công sức để đưa ra quyết định hợp lý, vì thế mà nhiều quyết định được đưa ra trong điều kiện không chắc chắn. Cách tiếp cận này trái ngược với các lý thuyết truyền thống về ra quyết định tài chính. Kahneman và Tversky (1979) đưa ra lý thuyết triển vọng mô tả về cách con người ra quyết định trong điều kiện không chắc chắn và có xác suất rủi ro. Theo đó, khi mọi người phải đối mặt với các tình huống ra quyết định phức tạp đòi hỏi thời gian và công sức đáng kể, họ gặp khó khăn trong việc đưa ra lựa chọn phù hợp trong vô số trường hợp có thể xảy ra của một vấn đề.
Đối mặt với sự không chắc chắn và lượng thông tin dồi dào để xử lý, các cá nhân có thể không mô tả vấn đề một cách có hệ thống, ghi lại dữ liệu cần thiết hoặc tổng hợp thông tin để tạo ra các quy tắc đưa ra quyết định. Thay vào đó, nhà đầu tư có thể chọn cách tiếp cận theo hướng chủ quan hơn bằng cách dựa vào trí nhớ, phán đoán và sở thích của chính bản thân để đưa ra quyết định phù hợp nhất. Vì thế mà người ra quyết định có thể không có thời gian Trang 10 cũng như khả năng đi đến một quyết định hoàn toàn tối ưu. Các cá nhân cố gắng đưa ra quyết định đúng đắn bằng cách đơn giản hóa các lựa chọn có sẵn và loại bỏ một số lựa dựa trên kinh nghiệm và sở thích của bản thân.
Họ chấp nhận một giải pháp khả thi và đủ tốt đối với họ hơn là cố gắng tìm ra câu trả lời tối ưu. Vì vậy, nhà đầu tư có thể vô tình làm sai lệch quá trình ra quyết định. Những sai lệch này có thể dẫn đến những hành vi và quyết định không hợp lý. Bằng cách nghiên cứu các sai lệch về hành vi, các nhà đầu tư có thể cải thiện hiệu quả kinh tế đầu ra.
Để làm được điều này, nhà đầu tư phải tìm hiểu và xác định sai lệch hành vi của chính bản thân cũng như của những người khác trên thị trường. Khi đã xác định được có sự sai lệch về hành vi, nhà đầu tư hoàn toàn có thể làm giảm, triệt tiêu các sai lệch đó hoặc thích ứng với sự sai lệch đó để các quyết định tài chính trở nên chặt chẽ và phù hợp so với giả định của tài chính truyền thống. Kết hợp kiến thức của tài chính hành vi và tài chính truyền thống có thể dẫn đến một kết quả vượt trội. Ở phần tiếp theo, lần lượt các sai lệch liên quan đến hành vi sẽ được phân loại và trình bày để có cái nhìn khái quát về lý thuyết tài chính hành vi.
Các dạng sai lệch trong hành vi Nghiên cứu của Fernandes và cộng sự (2007) đã tổng hợp và phân loại sai lệch trong trong tài chính hành vi thành hai loại là sai lệch nhận thức và sai lệch cảm xúc. Theo tài chính hành vi sai lệch nhận thức là các lỗi cơ bản về thao tác, thống kê và xử lý thông tin khiến việc ra quyết định đi lệch khỏi các quyết định hợp lý của tài chính truyền thống. Trong khi đó, sai lệch về cảm xúc phát sinh do thái độ và cảm xúc có thể khiến quyết định đó đi chệch hướng so với các quyết định hợp lý của tài chính truyền thống. Lý thuyết về hành vi cũng chỉ ra rằng sai sót về nhận thức dễ dàng sửa chữa hơn sai lệch về cảm xúc.
Mọi người hoàn toàn có thể điều chỉnh hành vi hoặc sửa đổi các Trang 11 quy trình của họ nếu xác định được nguồn gốc vấn đề do sai lệch về nhận thức bằng cách nâng cao kiến thức hoặc chứng minh được cách hiểu của họ là sai. Một khi họ nhận thấy sự sai sót thì sẽ dễ dàng tự động điều chỉnh hành vi cho phù hợp. Do đó lỗi nhận thức bắt nguồn từ thông tin hoặc suy luận sai lầm thì thông qua giáo dục để nâng cao kiến thức hoặc tiếp thu được lời khuyên đúng đắn thì có thể giúp chúng ta sửa đổi được. Vì thế, hầu hết các sai lệch về nhận thức hoàn toàn có thể được kiểm soát được để giảm thiểu ảnh hưởng trong quá trình ra quyết định.
Trong khi đó, cảm xúc là một trạng thái tinh thần phát sinh một cách tự phát chứ không phải thông qua nỗ lực để có được như ý thức. Do đó, sai lệch về cảm xúc cũng bắt nguồn từ sự bộc phát thông qua trực giác của chính bản thân, đôi khi những phán đoán này là thiếu căn cứ. Vì thế, những gì liên quan đến cảm xúc thì khó có thể sửa chữa hơn. Trong thế giới đầu tư, cảm xúc có thể khiến các nhà đầu tư đưa ra những quyết định không tối ưu.
Phân biệt rõ nhận thức và cảm xúc sẽ giúp nhà đầu tư xác định khi nào và làm sao để điều chỉnh những sai lệch về hành vi trong quá trình ra quyết định tài chính. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng một sai lệch hành vi cụ thể cũng có thể có cả một số khía cạnh chung của cả nhận thức và cảm xúc. Trong khuôn khổ nghiên cứu này sẽ không đi sâu vào phân tích tác động của nhiều sai lệch trong một hành vi cụ thể. Nghiên cứu này sẽ trình bày lý thuyết về một số sai lệch được công nhận nhiều hơn trong khuôn khổ nhận thức - cảm xúc.
Sai lệch nhận thức Thuật ngữ "sai lệch nhận thức" (cognitive bias) lần đầu tiên được đưa ra bởi Kahneman và Tversky (1979), hai nhà tâm lý học người Israel. Sai lệch về nhận thức được phân thành hai loại chính là sai lệch kiên trì về niềm tin và lỗi xử lý. Sự kiên trì về niềm tin là xu hướng hành động dựa vào niềm tin đã khắc sâu trong tâm trí của một người một cách phi lý hoặc phi logic. Loại sai lệch nhận thức thứ Trang 12 hai liên quan đến “lỗi xử lý”, mô tả cách thông tin có thể được xử lý và sử dụng một cách phi lý hoặc phi lý trong quá trình ra quyết định tài chính.
Có tất cả chín sai lệch về nhận thức được phân thành hai loại như trên, bao gồm: Sai lệch kiên trì về niềm tin gồm các lỗi: tính bảo thủ, tính xác nhận, tính đại diện, ảo tưởng về khả năng kiểm soát và nhận thức muộn. Lỗi xử lý gồm các lỗi: neo và điều chỉnh, kế toán nhận thức, đóng khung tâm lý và định kiến sẵn có. Sai lệch kiên trì về niềm tin Những sai lệch về lòng tin kiên trì có liên quan mật thiết đến khái niệm tâm lý về sự bất hòa nhận thức được Anderson và cộng sự (1980) đưa ra thảo luận. Theo đó sự bất hòa về nhận thức là sự khó chịu về mặt tinh thần xảy ra khi thông tin mới xung đột với niềm tin hoặc nhận thức đã tồn tại trước đó.
Để giải quyết sự bất hòa này, con người chỉ tiếp nhận thông tin mà mình quan tâm, bỏ qua hoặc sửa đổi thông tin mâu thuẫn với nhận thức hiện tại, hoặc chỉ nhớ và xem xét thông tin đúng với nhận thức hiện có. Các khía cạnh của những hành vi này được phân loại trong nhóm sai lệch kiên trì về niềm tin bao gồm tính bảo thủ, tính xác nhận, tính đại diện, ảo tưởng về khả năng kiểm soát và nhận thức muộn màng. Tính bảo thủ Edwards (1968) đã đưa ra khái niệm về tính bảo thủ trong thí nghiệm của mình. Theo đó, sai lệch do tính bảo thủ là sai lệch về sự kiên trì về niềm tin, trong đó con người duy trì quan điểm của họ bằng cách kết hợp không đầy đủ thông tin mới.
Sự thiên lệch này có các khía cạnh của cả lỗi thống kê và xử lý thông tin. Chủ nghĩa bảo thủ làm cho các cá nhân tin rằng xác suất và khả năng xảy ra của những gì họ tin tưởng là cao hơn và xem nhẹ các thông tin mới; họ thường khó thay đổi niềm tin và hành động của mình trong phạm vi được chứng minh một cách hợp lý bởi thông tin mới. Do sai lệch liên quan tính bảo thủ, các nhà đầu tư có thể phản ứng kém hoặc Trang 13 không thực hiện theo thông tin mới và tiếp tục duy trì niềm tin dựa trên các ước tính và thông tin trước đó.