phần mở đầu và kết luận, luận văn được trình bày theo ba chương: % Chương: Tổng quan về tài trợ tín dụng xuất khẩu tại ngân hàng thương mại. *% Chương: Thực trang hoạt động tài trợ tín dụng xuất khẩu tại Eximbank. % Chương: Một số biện pháp nhằm góp phần mở rộng tài trợ tín dụng xuất khẩu tại Eximbank. Nhận thức rằng đây là vấn để thời sự của năm 2008 trong khi thời gian nghiên cứu cũng như kiến thức có hạn nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định.
Rất mong nhận được ý kiến đóng góp và chỉ dẫn, trao đổi quý báu cha Quy Thay, Cô và các nhà khoa hoc quan tâm đến để tài này để luận văn được hoàn thiện hơn. Tôi xin bày tỏ lòng cám ơn tới người hướng dẫn khoa học PGS-TS Ngô Hướng đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến tập thể các thầy, cô Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hỗ Chí Minh đã cung cấp cho tôi những kiến thức quý báu và bổ ích trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu. Xin cám ơn Ban lãnh đạo Eximbank, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành luận văn này.
CHƯƠNGI TỔNG QUAN VỀ TÀI TRỢ XUẤT KHẨU TẠI NGÂN HÀNG THUONG MAI 1.1 VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU ĐỐI VỚI NÊN KINH TẾ: 1.1 Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế: Xuất khẩu là việc hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong nước được đem đi tiêu thụ ở nước ngoài. Xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại cơ bản, là phương tiện thúc đẩy nên kinh tế phát triển. Xuất khẩu có vai trò cực kỳ quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, cụ thể như sau: 1.111 Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển: | Xuất khẩu góp phân chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thông qua hoạt động xuất khẩu các quốc gia hướng sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo mục tiêu đã vạch ra. Các ngành sản xuất hàng xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi.
Chẳng hạn, khi phát triển ngành đệt may xuất khẩu tạo cơ hội cho phát triển các ngành xuất khẩu nguyên liệu như bông hay thuốc nhuộm. Sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu kéo theo sự phát triển của ngành công nghiệp sản xuất thiết bị chế biến. Xuất khẩu giúp cho việc gia tăng nhu cầu sản xuất, kinh doanh ở những ngành liên quan khác. Xuất khẩu tạo ra khả nãng mở rộng thị trường tiêu thụ, giúp cho sản xuất ổn định và kinh tế phát triển.
Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước. Thông qua cạnh tranh trong xuất khẩu, buộc các doanh nghiệp không ngừng cải tiến sản xuất, tìm ra những cách thức kinh doanh sao cho hiệu quả, giảm chỉ phí và tăng năng suất.2 Xuất khẩu tạo nguôn vốn ngoại tệ cho nền kinh tế: 6 hệu phục Để nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ hiện đại, nguyên vật vụ cho sẵn xuất, hàng hóa tiêu dùng mà trong nước chưa sản xuất được thì cần phải có nguồn ngoại tệ lớn để thực hiện. Nguồn vốn ngoại tệ chủ yếu từ các nguồn: xuất khẩu, đầu tư nước ngoài, vay vốn, viện trợ, thu từ hoạt động du lịch, ngoại tệ thu về các dịch vụ có thu ngoại tệ, xuất khẩu lao động.Trong đó, nguồn từ hoạt động xuất khẩu là nguồn chủ yếu để đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho nền kinh tế, cải 1.3 Xuất khẩu có tác động tích cực đến giải quyết công ăn việc làm và thiện đời sống nhân dân: Xuất khẩu gia tăng sẽ tạo thêm công ăn việc làm trong nền kinh tế, nhất là trong ngành sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Chính các ngành sản xuất hàng xuất khẩu thu bút hàng triệu lao động vào làm việc với thu nhập không thấp.
làm Xuất khẩu cũng làm tăng nguồn thu nhập quốc dân, từ đó tác động tăng tiêu dùng nội địa. Xuất khẩu còn tạo ra nguôn vốn để nhập khẩu vật phẩm thêm các tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng ngày càng phong phú nhu cầu tiêu đùng của nhân dân. Quan trọng hơn cả xuất khẩu tác động trực tiếp đến sản xuất làm cho cả ngành quy mô lẫn tốc độ sản xuất tăng lên, các ngành nghề cũ được khôi phục, nhiều nghề mới ra đời, sự phân công lao động mới đòi hỏi lao động được sử dụng hơn, năng suất lao động cao và đời sống nhân dân được cải thiện.4 Xuất khẩu là cơ sở mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đốt ngoại: nhau. Xuất khẩu và các quan bệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại lẫn mở rộng vận Chẳng hạn, hoạt động xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu tư, kiện mở tải quốc tế.Mặt khác, chính các quan hệ kinh tế đối ngoại này tạo điều rộng hoạt động xuất khẩu.2 — Các yếu tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa: nhiều yếu Quá trình xuất khẩu hàng hóa của một quốc gia phụ thuộc vào tố, trong đó có các yếu tố cơ bản sau: 1.1 Lợi thế cạnh tranh quốc gia: Trong một thế giới ngày càng tự do hóa thương mại, chiến lược phát triển kinh tế của từng ngành kinh tế, từng quốc gia cần tập trung vào việc tạo ra, duy trì và phát triển lợi thế cạnh tranh của quốc gia phù hợp với đặc điểm riêng, trình độ phát triển của thị trường và trình độ của nên kinh tế, của từng ngành kinh tế.
Lợi thế cạnh tranh quốc gia của mỗi nước là kết quả tổng hợp của lợi thế cạnh tranh của những ngành kinh tế chủ lực cấu thành nền kinh tế của đất nước chung đó. Các ngành kinh tế đó có quan hệ với nhau và với môi trường kinh tế ngành của quốc gia. Trung tâm Thương mại Quốc tế chia quá trình phát triển mỗi (ii) kinh tế thành ba giai đoạn lớn đó là: () giai đoạn dựa vào tài nguyên sẵn có, quản lý. giai đoạn dựa vào đầu tư và G11) giai đoạn dựa vào đổi mới công nghệ và giai đoạn Tương ứng với mỗi giai đoạn là một trình độ của tư duy quản lý.
Mỗi dựa vào các yếu tố chủ yếu khác nhau và ứng với các nhóm thách thức khác nhau. Ở nhiều nước đang phát triển như Việt Nam, các nguồn lực tự nhiên và lao động rẻ có thể tận dụng để nâng cao lợi thế cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn phát triển ban đầu. Có thể thấy rõ lợi thế của Việt Nam hiện nay là xuất khẩu các nguồn tài nguyên thiên nhiên như dầu mỏ, than, khoáng sản. và các mặt hàng nông lâm, thủy hải sản.
Xuất khẩu thời gian qua chủ yếu dựa vào khai thác lợi xây thế so sánh sẵn có mà chưa khai thác được lợi thế cạnh tranh thông qua việc dựng các ngành công nghiệp có mối liên kết chặt chẽ với nhau để hình thành chuỗi giá trị gia tăng xuất khẩu lớn hơn.2 Chính sách ngoại thương: thương Trong nền kinh tế thị trường, nhiệm vụ cơ bản của chính sách ngoại doanh trên thị là tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp được tự do kinh định trường trong nước và nước ngoài nhằm tăng trưởng kinh tế quốc dan theo chính sách hướng đã vạch ra. Trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi nước, thuộc vào những ngoại thương theo những xu hướng và hình thức khác nhau, phụ § điều kiện kinh tế, lịch sử cụ thể. Cho đến nay, chính sách ngoại thương của các nước đều gồm hai xu hướng: bảo hộ và tự do buôn bán. Ở Việt Nam, Nhà nước có chính sách khuyến khích mạnh mẽ mọi thành phần kinh tế tham gia sẵn xuất, kinh đoanh xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ.
Nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển những sản phẩm hàng hóa dịch vụ có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế; giảm mạnh xuất khẩu các sản phẩm thô và sơ chế, tăng nhanh tỷ trọng sản phẩm chế biến và tỷ lệ nội địa hóa trong sản phẩm; nâng dan tỷ trọng sản phẩm có hàm lượng trí tuệ và công nghệ cao. Khuyến khích sử dụng thiết bị, hàng hóa sẵn xuất trong nước. Tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, tiến tới cân bằng xuất nhập. Thực hiện chính sách bảo hộ có lựa chọn, có thời hạn đối với sản phẩm sản xuất trong nước.3 Chính sách tài chính: Chính sách tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với việc làm tăng năng lực sản xuất và xuất khẩu, tạo nên lợi thế cạnh tranh của một quốc gia.
Do vậy, hầu hết các nước đều dùng biện pháp này để đẩy mạnh xuất khẩu. Có nhiều biện pháp thực hiện chính sách tài chính hỗ trợ xuất khẩu, cơ bản có một số biện pháp sau: - Tín dụng tài trợ xuất khẩu: để thực hiện chính sách đẩy mạnh xuất khẩu Chính Phủ các nước xây dựng chính sách tín dụng tài trợ xuất khẩu. Cơ quan để thực hiện chính sách tài trợ xuất khẩu này gồm các NHTM và cơ quan thực hiện chính sách của Chính Phú. Hầu hết các nước đều khuyến khích xuất khẩu bằng nhiều công cụ khác nhau, trong đó lãi suất là một công cụ truyền thống và mang lại hiệu quả.
Để khuyến khích xuất khẩu thông qua lãi suất, các NHTM thường áp dụng mức lãi suất tài trợ xuất khẩu thấp hơn mức lãi suất thị trường để thu hút nguồn vốn ngoại tệ từ xuất khẩu. Hơn nữa, một số nước hình thành ngân hàng xuất nhập khẩu chuyên trợ giúp và khuyến khích xuất khẩu thông qua công cụ lãi suất và các công cụ khác. Ở Việt Nam, Ngân hàng xuất nhập khẩu Việt Nam “4 ` z “A ’ 2 A a ^ a” A + tA 9 cũng thực hiện chức năng tài trợ xuất nhập khẩu nhưng không phải là ngân hàng của Chính Phủ chuyên trợ giúp doanh nghiệp xuất khẩu như các các nước khác. - Chính sách về tỷ giá hối đoái: tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái là nhân tố quan trọng thực hiện chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu.
Khi tỷ giá thay đổi sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu. Để đẩy mạnh và khuyến khích xuất khẩu nhiều quốc gia thực hiện phá giá đồng tiền của nước mình (giảm giá đồng tiên) làm cho tỷ giá hối đoái thực tế giảm. - Thuế xuất khẩu và ưu đãi về thuế: để đẩy mạnh xuất khẩu các nước áp dụng thuế xuất khẩu đối với rất ít mặt hàng. Đánh thuế xuất khẩu cao vào những san phẩm không chế biến và thấp hơn hoặc không đánh thuế vào các sẵn phẩm đã chế biến.