Luận Văn Thạc Sĩ Về Tái Thẩm Trong Tố Tụng Dân Sự Việt Nam

Luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu vnu ls tái thẩm trong tố tụng dân sự việt nam chuyên ngành luật dân sự và tố tụng dân sự 60380103, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Luật Học

2017

109
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÁI THẨM TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.1. Khái niệm tái thẩm dân sự

1.2. Đặc điểm của tái thẩm

1.3. Ý nghĩa của tái thẩm trong tố tụng dân sự

1.3.1. Ý nghĩa pháp lý của tái thẩm

1.3.2. Ý nghĩa chính trị của tái thẩm

1.3.3. Ý nghĩa xã hội của tái thẩm

1.4. Sự hình thành và phát triển của các quy định về tái thẩm trong pháp luật Việt Nam

1.4.1. Sự hình thành và phát triển của tái thẩm trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân

1.4.2. Sự hình thành và phát triển của những quy định về tái thẩm trong các văn bản quy phạm pháp luật khác

1.5. Tái thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự một số nước trên thế giới

1.5.1. Liên bang Nga

1.5.2. Cộng hòa Pháp

2. CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ TÁI THẨM

2.1. Tính chất của tái thẩm

2.2. Kháng nghị theo thủ tục tái thẩm dân sự

2.2.1. Căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

2.2.2. Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

2.2.3. Đối tượng kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

2.2.4. Thời hạn kháng nghị, thay đổi, bổ sung và rút kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

2.3. Hình thức kháng nghị và gửi quyết định kháng nghị

2.4. Xét xử tái thẩm

2.4.1. Thẩm quyền tái thẩm

2.4.2. Hội đồng tái thẩm

2.4.3. Những người tham gia phiên tòa tái thẩm

2.4.4. Chuẩn bị phiên tòa tái thẩm

2.4.5. Thủ tục tiến hành phiên tòa tái thẩm

2.4.6. Phạm vi xét xử tái thẩm

2.4.7. Thẩm quyền của Hội đồng tái thẩm

2.4.8. Quyết định tái thẩm

3. CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN THI HÀNH VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÁI THẨM TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

3.1. Thực tiễn thi hành quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về tái thẩm

3.2. Công tác giải quyết đơn đề nghị xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục tái thẩm

3.3. Công tác kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

3.4. Thực tiễn hoạt động xét xử tái thẩm

3.5. Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tái thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam

3.5.1. Một số kiến nghị về lập pháp

3.5.2. Một số kiến nghị về thực hiện chế định tái thẩm

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan về tái thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam

Tái thẩm là một trong những thủ tục quan trọng trong hệ thống pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam. Thủ tục này cho phép xem xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật khi phát hiện ra những tình tiết mới có thể làm thay đổi nội dung của bản án. Điều này không chỉ đảm bảo tính công bằng trong xét xử mà còn bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan. Tái thẩm được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự và đã trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thực tiễn và yêu cầu của xã hội.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của tái thẩm

Tái thẩm được hiểu là việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Đặc điểm của tái thẩm là chỉ áp dụng cho những bản án, quyết định đã có hiệu lực và có thể bị kháng nghị khi phát hiện tình tiết mới. Điều này giúp đảm bảo rằng các quyết định của Tòa án luôn phản ánh đúng thực tế khách quan của vụ án.

1.2. Ý nghĩa của tái thẩm trong hệ thống pháp luật

Tái thẩm không chỉ là một thủ tục pháp lý mà còn thể hiện nguyên tắc công bằng trong tố tụng dân sự. Nó giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên, đồng thời nâng cao niềm tin của người dân vào hệ thống tư pháp. Việc thực hiện tái thẩm cũng góp phần hoàn thiện quy trình xét xử, đảm bảo rằng mọi bản án đều được xem xét một cách công bằng và khách quan.

II. Vấn đề và thách thức trong quy trình tái thẩm

Mặc dù tái thẩm là một thủ tục quan trọng, nhưng thực tiễn áp dụng vẫn gặp nhiều thách thức. Nhiều bản án, quyết định đã có hiệu lực nhưng vẫn bị khiếu nại do những thiếu sót hoặc sai lầm. Điều này dẫn đến tình trạng quá tải cho các cơ quan tư pháp và làm giảm hiệu quả của quy trình tái thẩm.

2.1. Những khó khăn trong việc kháng nghị tái thẩm

Khó khăn lớn nhất trong quy trình tái thẩm là việc xác định căn cứ kháng nghị. Nhiều trường hợp, các tình tiết mới không được phát hiện kịp thời, dẫn đến việc không thể kháng nghị. Điều này làm giảm tính hiệu quả của tái thẩm và gây bức xúc trong dư luận.

2.2. Tình trạng quá tải trong giải quyết đơn kháng nghị

Sự gia tăng đơn kháng nghị tái thẩm đã tạo ra áp lực lớn cho các Tòa án. Nhiều vụ án kéo dài, không đáp ứng được yêu cầu của người dân. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên mà còn làm giảm uy tín của hệ thống tư pháp.

III. Phương pháp và quy trình tái thẩm trong tố tụng dân sự

Quy trình tái thẩm được quy định rõ ràng trong Bộ luật tố tụng dân sự. Các bước trong quy trình này bao gồm việc tiếp nhận đơn kháng nghị, xem xét các tình tiết mới và quyết định của Hội đồng tái thẩm. Việc thực hiện đúng quy trình sẽ đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong xét xử.

3.1. Quy trình tiếp nhận và xử lý đơn kháng nghị

Khi nhận được đơn kháng nghị, Tòa án sẽ tiến hành xem xét các tài liệu, chứng cứ liên quan. Nếu đủ căn cứ, Hội đồng tái thẩm sẽ tiến hành xét xử lại vụ án. Quy trình này cần được thực hiện một cách nghiêm túc để đảm bảo quyền lợi của các bên.

3.2. Vai trò của Hội đồng tái thẩm trong xét xử

Hội đồng tái thẩm có vai trò quan trọng trong việc xem xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực. Họ sẽ đánh giá các tình tiết mới và quyết định xem có cần thiết phải sửa đổi bản án hay không. Quyết định của Hội đồng tái thẩm sẽ có giá trị pháp lý cao và ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của các bên.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về tái thẩm

Thực tiễn thi hành quy định về tái thẩm đã cho thấy nhiều kết quả tích cực, nhưng cũng bộc lộ nhiều hạn chế. Nghiên cứu về tái thẩm cần được tiếp tục để hoàn thiện các quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác xét xử.

4.1. Kết quả thực tiễn trong việc áp dụng tái thẩm

Nhiều vụ án đã được giải quyết thành công thông qua thủ tục tái thẩm, giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vụ án chưa được giải quyết triệt để, dẫn đến tình trạng khiếu nại kéo dài.

4.2. Đề xuất cải cách quy trình tái thẩm

Cần có những cải cách cụ thể trong quy trình tái thẩm để nâng cao hiệu quả. Việc đào tạo nâng cao năng lực cho các thẩm phán và cán bộ tư pháp cũng là một yếu tố quan trọng để cải thiện tình hình.

V. Kết luận và tương lai của tái thẩm trong tố tụng dân sự

Tái thẩm là một phần không thể thiếu trong hệ thống pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam. Việc hoàn thiện quy trình tái thẩm sẽ góp phần nâng cao chất lượng xét xử và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân. Tương lai của tái thẩm cần được nghiên cứu và cải cách để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội.

5.1. Tầm quan trọng của tái thẩm trong bảo vệ quyền lợi

Tái thẩm không chỉ là một thủ tục pháp lý mà còn là một công cụ quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên. Việc thực hiện tái thẩm một cách hiệu quả sẽ giúp nâng cao niềm tin của người dân vào hệ thống tư pháp.

5.2. Định hướng phát triển tái thẩm trong tương lai

Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và cải cách quy trình tái thẩm để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý và xử lý đơn kháng nghị cũng là một hướng đi cần được xem xét.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls tái thẩm trong tố tụng dân sự việt nam chuyên ngành luật dân sự và tố tụng dân sự 60380103

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÁI THẨM TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. Khái niệm tái thẩm dân sự Theo pháp luật Việt Nam, thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được tiến hành theo hai loại thủ tục, đó là thủ tục giám đốc thẩm và thủ tục tái thẩm. Thủ tục tái thẩm được quy định khá sớm và luôn được hoàn thiện cho phù hợp với điều kiện tổ chức của các cơ quan tư pháp nói chung và Toà án nói riêng, phù hợp với trình độ quản lý của Nhà nước và ý thức pháp luật của người dân, phù hợp với thông lệ quốc tế. Các quy định này đã tạo điều kiện thuận lợi cho Toà án và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc giải quyết các tranh chấp theo thủ tục tái thẩm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

Theo Từ điển Tiếng Việt do giáo sư Hoàng Phê chủ biên và xuất bản năm 1992 có đưa ra khái niệm: “Tái thẩm là xét lại một bản án đã xử” [44]. Theo khái niệm này thì tái thẩm được hiểu như một hoạt động của chủ thể, đó là Toà án. Hoạt động này là hoạt động xét lại một bản án đã xử. Thủ tục phúc thẩm cũng là xét lại một bản án đã xử, và thủ tục giám đốc thẩm cũng là việc xét lại một bản án đã xử.

Nên khái niệm như trên chưa giúp người đọc thấy được bản chất của thủ tục tái thẩm và nội hàm của khái niệm “thủ tục tái thẩm” trong tố tụng dân sự. Theo tác giả Đinh Văn Quế thì: “Tái thẩm là xét lại bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Toà án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó” [14, tr. Với khái niệm này, đã thấy được căn cứ kháng nghị tái thẩm là những tình tiết mới phát hiện nhưng không đưa ra được quan điểm của tác 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giả về việc xác định thủ tục tái thẩm là một giai đoạn tố tụng hay một thủ tục tố tụng đặc biệt. Theo Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội đã đưa ra khái niệm: “Tái thẩm dân sự là việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án bị kháng nghị do mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà tòa án và các đương sự đã không biết được khi toà án giải quyết vụ án” [37, tr.

Với khái niệm này, thì đối tượng của việc xét lại theo thủ tục tái thẩm là những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện được những tình tiết mới có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải quyết vụ án nhưng lúc ra bản án, quyết định các đương sự và Toà án đã không thể biết. Do mới phát hiện được những tình tiết của vụ án mà trước đó các đương sự và Toà án đã không biết được nên làm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án trở nên không phù hợp với thực tế khách quan của vụ án, không đúng đắn. Điều 304 BLTTDS quy định tính chất của tái thẩm, đồng thời cũng chính là khái niệm pháp lý về tái thẩm: “Tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Toà án, các đương sự không biết được khi Toà án ra bản án, quyết định đó” [22]. Khái niệm pháp lý này tiếp tục được BLTTDS năm 2015 kế thừa và quy định tại Điều 351 [25].

Như vậy, có thể hiểu: Tái thẩm trong tố tụng dân sự là thủ tục tố tụng đặc biệt của tố tụng dân sự, theo đó Hội đồng tái thẩm xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trên cơ sở kháng nghị của người có thẩm quyền vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Tòa án, các đương sự đã không biết và không thể biết được khi Tòa án ra bản án hoặc quyết định đó, nhằm đảm bảo sự thật 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của vụ án được xác định khách quan, toàn diện và đầy đủ. Tuy nhiên, để nhận diện đầy đủ bản chất của tái thẩm cần làm rõ đặc điểm của tái thẩm trong tố tụng dân sự. Đặc điểm của tái thẩm Tái thẩm là thủ tục đặc biệt trong hoạt động tố tụng dân sự, tính chất đặc biệt này được hình thành bởi những đặc trưng riêng và thông qua đó có thể phân biệt được thủ tục này với các thủ tục tố tụng khác. Tái thẩm có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, đối tượng của tái thẩm là những bản án, quyết định dân sự của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.

Trước hết, bản án, quyết định của Tòa án được hiểu là văn bản pháp lý được Tòa án có thẩm quyền tuyên xử hoặc quyết định theo một trình tự tố tụng do luật định về tính hợp pháp hay không hợp pháp của hành vi hoặc quan hệ pháp luật phát sinh từ một vụ án cụ thể. Bên cạnh đó, đối với một bản án, quyết định của Tòa án không phải lúc nào cũng có hiệu lực pháp luật ngay lập tức, tùy vào từng loại bản án, quyết định có thời hạn khác nhau theo luật định. Chẳng hạn, quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự sẽ có hiệu lực pháp luật ngay hay bản án dân sự sơ thẩm nếu không có kháng cáo, kháng nghị thì sau 15 ngày kể từ ngày tuyên án sẽ có hiệu lực pháp luật. Với tái thẩ m chỉ đă ̣t ra vấ n đề kháng nghi ̣đố i với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được cho là không đúng với thực tế khách quan do mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà trước đó Toà án và các đương sự không thể biết được khi giải quyết vụ việc dân sự.

Theo quy định của BLTTDS, các bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật có thể trở thành đối tượng kháng nghị tái thẩm, bao gồm, bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đã hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị; bản án, quyết định của Toà án cấp phúc 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thẩm; quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm, trừ quyết định của Hội đồng thẩm phán TANDTC. Thứ hai, tái thẩm không xét xử lại vụ án mà là xem xét tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị. Như vậy, trước hết phải xem xét tình tiết được phát hiện có phải là tình tiết mới hay không. Tình tiết được coi là mới khi thỏa mãn các điều kiện sau: Tình tiết đó tồn tại trước khi Tòa án ra bản án, quyết định; được phát hiện sau khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và Tòa án không biết được tình tiết đó khi ra bản án, quyết định.

Sau đó phải xem xét ý nghĩa của tình tiết mới đối với vụ án. Tình tiết mới phải có ý nghĩa làm thay đổi cơ bản nội dung của vụ án thì mới là căn cứ để có thể làm phát sinh tái thẩm. Thứ ba, việc xét lại bản án, quyết định phải dựa trên kháng nghị của người có thẩm quyền. Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, cơ sở làm phát sinh thủ tục tái thẩm chỉ có thể là kháng nghị của người có thẩm quyền.

Tuy nhiên, nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự là nét đặc thù trong pháp luật tố tụng dân sự. Vì vậy, đơn đề nghị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với bản án đã có hiệu lực pháp luật là cơ sở ưu tiên hàng đầu để Tòa án xem xét, kiểm tra lại bản án, quyết định. Không phải đơn đề nghị hoặc văn bản thông báo nào của đương sự, của cá nhân, cơ quan, tổ chức cũng được kháng nghị và đưa ra để Hội đồng tái thẩm xem xét mà còn cần dựa trên các căn cứ kháng nghị theo quy định của pháp luật để người có thẩm quyền ra quyết định kháng nghị trong thời hạn luật định. Như vậy, quyền đề nghị xem xét lại theo thủ tục tái thẩm của đương sự chỉ là cơ sở để người có thẩm quyền kháng nghị xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật chứ không phải là căn cứ để Hội đồng tái thẩm xác định những tình tiết mới 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có thể làm thay đổi cơ bản nội dung bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Hội đồng tái thẩm chỉ xem xét lại bản án, quyết định đó tại phiên tòa tái thẩm trên cơ sở quyết định kháng nghị của người có thẩm quyền kháng nghị. Thứ tư, phạm vi tái thẩm bị giới hạn bởi phạm vi của kháng nghị. Chỉ có phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị mới được đưa ra xem xét. Phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không bị kháng nghị hoặc không có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị chỉ bị xem xét lại nếu nó xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của người thứ ba không phải là đương sự trong vụ án [22, Điều 296].

BLTTDS năm 2015 đã bổ sung thêm trường hợp phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không bị kháng nghị hoặc không có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị cũng sẽ bị xem xét lại nếu nó xâm phạm đến lợi ích công cộng [25, Điều 342]. Thứ năm, phiên tòa tái thẩm không mở công khai. Về thành phần tham gia, chỉ đại diện VKS cùng cấp bắt buộc phải có mặt, những người tham gia tố tụng và những người khác có liên quan đến việc kháng nghị chỉ được tham gia phiên tòa tái thẩm trong trường hợp Tòa án "xét thấy cần thiết" [22, Điều 292] [25, Điều 338].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ