Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ VỀ TÁI PHẠM, TÁI PHẠM NGUY HIỂM 1.1 Khái niệm, các đặc điểm của tái phạm, tái phạm nguy hiểm. Các hình thức của tái phạm. Phân biệt tái phạm với một số trường hợp tương tự. Khái niệm tái phạm Hiện nay thuật ngữ tái phạm được sử dụng rộng rãi trong hệ thống pháp luật Việt Nam, nhưng nội dung của khái niệm này trong mỗi ngành luật lại được giải thích, lý giải hoặc được hiểu khác nhau.
Trong lĩnh vực luật hình sự, thuật ngữ tái phạm lần đầu tiên được quy định trong BLHS năm 1985 và tiếp tục được sửa đổi, bổ sung, kế thừa trong BLHS năm 1999. Tuy nhiên, về mặt lý luận, khái niệm tái phạm trong pháp luật hình sự chưa được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, xây dựng. Trong pháp luật hành chính, thì: Tái phạm được cho là việc cá nhân, tổ chức đã bị xử lý vi phạm hành chính nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định này mà lại thực hiện hành vi vi phạm hành chính đã bị xử lý [36]. Trong pháp luật lao động thì khái niệm tái phạm được định nghĩa: Là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật [35].
Trong khoa học luật hình sự trước đây và hiện nay đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về tái phạm. Quan điểm thứ nhất: cho rằng tái phạm là sự phạm tội trở lại của kẻ 8 phạm tội đã mãn hạn tù hoặc thi hành xong hình phạt [59, tr. Theo đó, điều kiện của tái phạm bao gồm: 1) Người thực hiện hành vi phạm tội đã bị kết án đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước đó; 2) Người phạm tội đã chấp hành xong hình phạt tù hoặc thi hành xong hình phạt; 3) Người phạm tội lại phạm tội mới. Quan điểm thứ hai: cho rằng tái phạm là tình trạng một người trước đã bị kết án về một tội, về sau lại phạm và bị truy tố nữa [29, tr.
Theo đó, các điều kiện của tái phạm gồm: 1) Người thực hiện hành vi phạm tội đã bị kết án đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước đó; 2) Người phạm tội lại phạm tội mới. Quan điểm thứ ba: Tái phạm chỉ là trường hợp sau khi chấp hành xong hình phạt tù do đã thực hiện hành vi phạm tội trước đây không hoàn lương lại tiếp tục phạm tội [60, tr. Theo đó, điều kiện của tái phạm bao gồm: 1) Người thực hiện hành vi phạm tội đã bị kết án đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước đó; 2) Người phạm tội đã chấp hành xong hình phạt tù của bản án trước; 3) Người phạm tội lại phạm tội mới. Quan điểm thứ tư: Tái phạm là trường hợp của người đã từng bị kết tội bởi một bản án có hiệu lực pháp luật, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội lần nữa [30, tr.
Quan điểm thứ năm: Tái phạm là trường hợp phạm tội sau khi đã bị xử phạt và chưa được xoá án tích về tội đã phạm trước đó [55, tr. Theo chúng tôi, điều kiện để xác định tái phạm như quan điểm thứ nhất là chưa đầy đủ. Vì khi một người đã bị Toà án kết tội bằng một bản án có hiệu lực pháp luật và người đó bị áp dụng hình phạt sẽ làm nảy sinh án tích đối với người đó và án tích đó sẽ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định kể từ khi có bản án kết tội cho đến khi được xoá bỏ (có thể đương nhiên hoặc theo quyết định của Tòa án) mà không phụ thuộc vào việc người đó đã chấp hành 9 hay chưa chấp hành hình phạt. Do đó, tái phạm sẽ bao gồm cả trường hợp chưa chấp hành hoặc chưa chấp hành xong hình phạt mà lại phạm tội trở lại.
Đối với quan điểm thứ hai, tuy đã chỉ ra được điều kiện đã bị kết án, nhưng dùng thuật ngữ “lại phạm” là chưa chính xác. Mặt khác, tác giả cũng chưa đề cập đến điều kiện người phạm tội chưa được xoá án tích của lần phạm tội trước đó. Theo quan điểm thứ ba, điều kiện của tái phạm thậm chí còn bị thu hẹp lại đó là “Người phạm tội phải chấp hành xong hình phạt và hình phạt đó phải là hình phạt tù”, như vậy những trường hợp đã bị kết án nhưng bị xử phạt không phải là hình phạt tù hoặc người bị kết án chưa thi hành xong mà lại phạm tội mới thì không phải là tái phạm. Quan điểm này gần giống quan điểm thứ nhất ở chỗ tác giả lấy dấu hiệu thi hành xong hình phạt để làm căn cứ xác định tái phạm là chưa hợp lý.
Quan điểm thứ tư, chứa đựng tương đối đầy đủ những điều kiện của tái phạm. Tuy nhiên, trong khái niệm này lại chưa đề cập đến điều kiện người phạm tội phải bị xử phạt vì nếu người phạm tội bị Toà án kết tội bằng một bản án có hiệu lực pháp luật nhưng người đó được miễn hình phạt thì họ sẽ được xoá án tích ngay và do án tích không xuất hiện trong trường hợp này nên sẽ không có tái phạm. Chúng tôi cho rằng, quan điểm thứ năm về tái phạm là đúng hơn cả, bởi lẽ quan điểm này đã đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu đặc trưng của tái phạm. Nghiên cứu các dấu hiệu pháp lý của tái phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam, chúng tôi nhận thấy trong khái niệm tái phạm có các dấu hiệu chung, đó là: 1) Người phạm tội trước đây đã từng phạm tội và bị kết án; 2) Người phạm tội thực hiện hai hành vi phạm tội trở lên; 3) Người phạm tội đang chấp hành hình phạt đối với hành vi phạm tội trước đây; 4) Người phạm tội đã chấp hành xong một phần hoặc toàn bộ hình phạt của bản án đã tuyên đối với hành vi phạm tội trước đó; 5) Người phạm tội có thể được xoá án tích hoặc chưa được xóa án tích đối với tội phạm đã thực hiện trước đây.
10 Tuy nhiên, theo chúng tôi để đưa ra một định nghĩa chính xác nhất về tái phạm thì trong định nghĩa được đưa ra phải chứa đựng được bản chất pháp lý và những điều kiện đặc trưng của tái phạm. Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học xuất bản năm 2010 thì thuật ngữ tái phạm được định nghĩa là “Mắc lại tội cũ, sai lầm cũ” [45]. Do đó tái phạm hiểu theo nghĩa rộng chính là sự lặp lại hành vi của chính mình. Hành vi đó có thể là hành vi vi phạm đạo đức, vi phạm pháp luật trong đó có hành vi phạm tội và thường là những hành vi mà xã hội không mong muốn.
Xét dưới góc độ luật hình sự, thì tái phạm được hiểu là hành vi lặp lại hành vi phạm tội của chính mình. Do đó, một trong những dấu hiệu bắt buộc đầu tiên của tái phạm chính là “sự lặp lại hành vi phạm tội”. Hành vi phạm tội lặp lại có thể trùng lặp, cũng có thể không trùng lặp. Đặc điểm của hành vi phạm tội đã thực hiện và tính chất nghiêm trọng của nó chỉ quy định mức độ nguy hiểm của tái phạm tội đối với xã hội, là cơ sở để phân chia tái phạm thành các dạng khác nhau.
“Án tích”- là một trong những dấu hiệu bắt buộc thứ hai của tái phạm. Đây là trạng thái pháp lý của một người được quy định bằng sự kiện tuyên án của Tòa án theo một mức hình phạt nhất định đối với hành vi phạm tội đã thực hiện. Trạng thái này được kéo dài từ ngày bản án kết tội có hiệu lực pháp luật cho đến khi hết thời hạn mà pháp luật giới hạn cho họ. Khi hết thời hạn này thì người đó không bị coi là người đã phạm tội nữa mặc dù thực tế trước đó họ đã bị Tòa án kết án.
Một trong những dấu hiệu quan trọng khác của tái phạm là hành vi phạm tội được thực hiện sau khi đã bị Tòa án kết án đối với tội phạm thực hiện trước đây. Có nghĩa là trước khi thực hiện hành vi phạm tội lặp lại, người phạm tội đã từng bị Tòa án kết án do thực hiện hành vi phạm tội. Giữa hành vi phạm tội lần đầu và các hành vi phạm tội lặp lại có mối liên hệ nhất định, chứng tỏ sự tiếp diễn các hành vi của người từng bị kết án tiếp tục chống lại 11 các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ mặc dù đã được giáo dục, cải tạo. Người đã từng bị kết án được hiểu là người đã bị Toà án kết tội bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật.
Dấu hiệu khác có liên quan mật thiết với các dấu hiệu trước đó của hành vi tái phạm là “hình phạt”. Hình phạt được hiểu là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quyết định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Toà án, tước bỏ hay hạn chế quyền, tự do của người bị kết án theo các quy định của pháp luật hình sự [5, tr. Giữa hình phạt và án tích có mối quan hệ chặt chẽ. Án tích là hậu quả pháp lý của hình phạt, do đó nếu không có hình phạt thì sẽ không có án tích, cũng như đã có án tích thì không thể không có hình phạt và do đó cũng không thể không có tái phạm.
Từ việc nghiên cứu một số quan điểm của các nhà nghiên cứu nêu trên về tái phạm, có thể đưa ra khái niệm về tái phạm như sau: Tái phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam là việc lặp lại hành vi phạm tội của một người đã bị xử phạt bằng một bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật trong khi bản án kết tội trước đó chưa được xóa án tích theo quy định của pháp luật. Các đặc điểm cơ bản của tái phạm. Trên cơ sở nghiên cứu các điều kiện của tái phạm và khái niệm tái phạm nêu trên, chúng ta có thể thấy một số đặc điểm chung của tái phạm như sau: Thứ nhất, tái phạm là trước đó đã phạm tội. Xuất phát từ bản chất của tái phạm là sự lặp lại hành vi phạm tội nên trong các dấu hiệu của tái phạm thì đây được coi là dấu hiệu đầu tiên của tái phạm.