Chương 1 Mặc dù được nhận thức và quy định khác nhau nhưng nhìn chung, hình phạt cải tạo không Luận giam giữvăn thạc là một trong sĩ cácLuật chế tài học hình phạt không phải hình phạt tù được quy định trong hầu hết pháp luật hình sự các quốc gia. Ở khía cạnh nào đó, hình phạt cải tạo không giam giữ được xem như là biện pháp hình sự mang tính cần và đủ để xử lý người phạm tội mà không cần cách ly người phạm tội ra khỏi đời sống xã hội, tạo điều kiện để người phạm tội tự giáo dục, cải tạo bản thân thông qua các hoạt động mang tính xã hội, cộng đồng, góp phần cũng cố niềm tin của toàn xã hội vào đường lối đấu tranh, xử lý người phạm tội của pháp luật hình sự. Tạo giá trị nhân đạo, nhân văn, tính hướng thiện trong chính sách cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt, phù hợp với nỗ lực của cộng đồng quốc tế trong việc đề cao và ghi nhận các giá trị về quyền con người, quyền công dân của mỗi quốc gia. Khi hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng đúng thì các yếu tố thuộc về chấp hành hình phạt mới có điều kiện phát huy tác dụng [11, tr 110], hình phạt cải tạo không 17 giam giữ mới qua đó đạt được mục đích của hình phạt mà pháp luật hình sự quy định cho mình.
Hiểu rõ những vấn đề thuộc về bản chất của hình phạt cải tạo không giam giữ sẽ tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá thực trạng áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ vào thực tiễn xét xử của Toà án trong phần sau. Luận văn thạc sĩ Luật học 18 Chương 2 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH HÌNH PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC 2. Quy định hình phạt cải tạo không giam giữ trong phần chung Bộ luật Hình sự hiện hành Với tư cách là hình phạt chính trong hệ thống hình phạt được quy định tại Điều 28 Bộ luật Hình sự năm 1999. Các hình phạt “ Hình phạt bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung.
Hình phạt chính bao gồm: a) Cảnh cáo; b) Phạt Luận tiền; văn thạc sĩ Luật học c) Cải tạo không giam giữ; d)……………………. Hình phạt bổ sung bao gồm: a)………………. Đối với mỗi tội phạm, người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.” Theo đó, Điều 31 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: Điều 31. Cải tạo không giam giữ “1.
Cải tạo không giam giữ được áp dụng từ sáu tháng đến ba năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật này quy định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng, nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội….” 19 Có thể thấy rằng, hình phạt cải tạo không giam giữ là một trong bảy hình phạt chính và là một trong ba chế định hình phạt không phải tù, nặng hơn hình phạt cảnh cáo và phạt tiền nhưng nhẹ hơn hình phạt tù trong hệ thống hình phạt của pháp luật hình sự Việt Nam. Vì là loại hình phạt không cách ly người phạm tội ra khỏi đời sống xã hội, không tước bỏ hoặc hạn chế quyền tự do thân thể của người phạm tội nên việc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cần có những quy định chặt chẽ nhằm bảo đảm cho công tác đấu tranh xử lý, răn đe, giáo dục phòng ngừa và chống tội phạm của pháp luật hình sự, đó là: hình phạt cải tạo không giam giữ chỉ được áp dụng đối với người phạm tội phạm tội ít nghiêm trọng và nghiêm trọng theo phân loại tội phạm; thời hạn áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ có mức tối thiểu là sáu tháng và mức tối đa là đến ba năm; bên cạnh đó, người phạm tội cần có thêm điều kiện về nơi làm việc ổn định Luận hoặc nơi thường trú rõ văn ràng vàthạc sĩ khẳng có cơ sở Luậtđịnh họcdù không cần cách ly ra khỏi xã hội, người phạm tội vẫn có thể tự cải tạo, giáo dục trở thành người lương thiện và có ích cho xã hội. Chỉ khi hội tụ đầy đủ các điều kiện cần và đủ nêu trên thì Tòa án mới có thể quyết định áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người phạm tội trong quá trình xét xử. Tuy nhiên, qua nghiên cứu một cách khách quan, toàn diện về hình phạt cải tạo không giam giữ trong mối quan hệ của nó với các quy định của pháp luật hình sự chúng tôi thấy rằng, các quy định về hình phạt cải tạo không giam giữ trong Bộ luật Hình sự vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế; nhiều quy định vẫn còn chưa rõ ràng, thống nhất.
Cụ thể: Quy định điều kiện áp dụng đối với người phạm tội đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng quy định này còn nhiều bất cập, việc xác định thế nào là nơi làm việc ổn định, nơi thường trú rõ ràng vẫn chưa được hướng dẫn thống nhất trong bất kỳ văn bản pháp luật có liên quan nào. 20 Đối với trường hợp trước và trong khi phạm tội người phạm tội có việc làm nhưng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử người phạm tội rơi vào tình trạng bị mất việc làm hoặc không đăng ký tạm trú hay thường trú tại địa phương nơi Tòa án xét xử nhưng thuộc trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng, chưa từng có tiền án, tiền sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì Tòa án vẫn không thể áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ. Điều này làm cho nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt không được đảm bảo. Việc xác định “nơi thường trú rõ ràng” căn cứ vào nơi người phạm tội đăng ký hộ khẩu thường trú hay nơi người phạm tội đăng ký tạm trú vẫn chưa được hướng dẫn cụ thể.
Thậm chí, việc quy định nơi thường trú của người phạm tội trong Bộ luật Hình sự lại chưa thống nhất, chưa phù hợp với các văn bản pháp luật có liên quan. Theo quy định của Luật Cư trú năm 2006 được Luận sửa đổi bổ sung văn năm 2013 thạc thì nơi sĩđược cư trú Luật họclà: xác định Điều 12. Nơi cư trú của công dân “1. Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống.
Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú. Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật. Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú.
Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống”. Do vậy, nếu căn cứ vào điều kiện người phạm tội có nơi thường trú rõ ràng để Tòa án áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ là chưa phù hợp với quy định của Luật Cư trú; tạo ra sự mâu thuẫn trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam, thể hiện hạn chế trong trình độ kỹ thuật lập pháp. Điều kiện xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội ra khỏi đời sống xã hội trong Bộ luật Hình sự dẫn đến sự tùy tiện mang tính chủ quan trong nhận thức và áp dụng của Tòa án khi xét xử.
Điều này dẫn đến nguyên tắc công bằng trong pháp luật hình sự bị vi phạm bởi quy định trên của Bộ luật Hình sự mang tính “chủ quan” mà không có cơ sở pháp lý rõ ràng, không có văn bản pháp luật nào hướng dẫn các tình tiết, các yếu tố để nhận định và đánh giá điều Luận kiện “xétvăn thạccần thấy không sĩ thiết” Luậtcủahọc Bộ luật Hình sự. Về bản chất, hình phạt cải tạo không giam giữ là loại hình phạt không phải tù, người phạm tội được giáo dục, cải tạo trong môi trường xã hội bình thường tức phản ánh được các yếu tố thuộc về nhân thân người phạm tội. Nguyên tắc công bằng, nguyên tắc cá thể hoá TNHS và hình phạt thể hiện thông qua căn cứ quyết định hình phạt theo quy định tại Điều 45 Bộ luật Hình sự: “Khi quyết định hình phạt, Toà án căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, căn nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự”. Trong khi đó, nhân thân người phạm tội là một trong các căn cứ quan trọng để đánh giá khả năng tự giáo dục, cải tạo của người phạm tội nhưng không được pháp luật hình sự quy định làm điều kiện chứng minh yếu tố xét thấy không cần thiết trong hình phạt cải tạo không giam giữ.
Mặt khác, các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại Điều 46 Bộ luật Hình sự như: 22 Phạm tội lần đầu, người phạm tội đầu thú, người phạm tội thành khẩn khai báo… hoặc tình tiết người phạm tội chưa có tiền án, tiền sự hoặc có vai trò không đáng kể trong các vụ án có đồng phạm hoặc các yếu tố thuộc về nguyên nhân làm phát sinh tội phạm như điều kiện, hoàn cảnh gia đình thuộc diện đặc biệt khó khăn hoặc người phạm tội là lao động chính trong gia đình…thì có được xem là “ không cần thiết” phải cách ly ra khỏi xã hội hay không; các tình tiết tăng nặng TNHS có được xem là tình tiết loại trừ việc quyết định hình phạt cải tạo không giam giữ hay không vẫn không được hướng dẫn rõ ràng trong bất kỳ văn bản pháp luật nào. Quy định về việc thực hiện nghĩa vụ khấu trừ thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ Nhà nước trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ của người chấp hành án vẫn chưa được cụ thể, rõ ràng. Việc khấu trừ thu nhập của người bị kết án chỉ phát huy hiệu quả thực tiễn đối với người Luận phạm tội có nghề văn nghiệp, thu thạc nhập ổnsĩđịnh Luật và cóhọc nơi làm việc rõ ràng.