MỞ ĐẦU Liệt kê các thông tin ở cột K và W theo bảng “KWL” về chủ đề văn học dân gian Tuyên Quang như sau: K W L Hãy kể tên những thể loại Em muốn biết thêm Câu trả lời và những điều văn học dân gian Tuyên điều gì về văn học dân em thích về chủ đề này. Quang mà em đã biết. gian Tuyên Quang? (hoàn thành trong khi học hoặc sau khi học xong chủ đề này) KIẾN THỨC MỚI I. KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC DÂN GIAN TUYÊN QUANG Tuyên Quang là tỉnh miền núi trung du phía Bắc, có bề dày lịch sử – văn hoá 12 lâu đời.
Tuyên Quang có kho tàng văn học dân gian phong phú, đa dạng, có nhiều giá trị đặc sắc. Những câu ca dao, tục ngữ, những truyện cổ mang đậm bản sắc văn hoá độc đáo của các dân tộc. Văn học dân gian Tuyên Quang là một bộ phận của nền văn học dân gian Việt Nam, phản ánh thế giới nội tâm của đồng bào các dân tộc, quan niệm về vũ trụ, về nhân sinh, quan hệ gia đình và xã hội, các phong tục tập quán, những ước mơ, khát vọng của Nhân dân… Văn học dân gian Tuyên Quang có nhiều thể loại phong phú như: thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, truyện thơ, tục ngữ, câu đố, ca dao. Các thể loại này được lưu truyền trong các bản làng từ đời này qua đời khác, từ vùng này sang vùng khác, giữa dân tộc này với dân tộc khác nên cũng có những dị bản khác nhau.
Truyện cổ dân gian 1. Thần thoại Những truyện thần thoại lưu truyền ở Tuyên Quang phần lớn đề cập đến các vấn đề về nguồn gốc của vũ trụ và loài người. Đồng bào Dao có Truyện người cung trăng và nguồn gốc loài người; đồng bào Mông có truyện Chử Lầu, Bọc thịt, Thần Nông, Ông Chày – bà Chày; đồng bào Cao Lan có truyện Vợ chồng trời đất; đồng bào Sán Dìu có truyện Quả bầu; đồng bào Pà Thẻn có truyện Thần Sấm Sét, Ông Trời. Truyền thuyết Nằm ở phía bắc tỉnh Phú Thọ, Tuyên Quang là mảnh đất lưu truyền nhiều truyền thuyết về thời đại Hùng Vương như: Truyện đẻ trăm trứng,.
Các truyền thuyết của các dân tộc thiểu số như: truyền thuyết Pú Lương Quân (Thần Nông), Nguồn gốc của người Dao,… 1. Truyện cổ tích Truyện cổ tích ở Tuyên Quang rất phong phú. Nhiều vùng đất ở Tuyên Quang đều có kho tàng truyện cổ, chẳng hạn như, ở Chiêm Hoá có truyện: Sự tích đèo Nàng, Vua cóc, Cây lá dong đỏ, Vợ chồng nhà họ Lý,.; ở Na Hang có Sự tích hoa Phặc Phiền, Vua quạ,. hay đến với mảnh đất Lâm Bình, người dân vẫn truyền miệng về Sự tích thác Tin Tốc, Nguồn gốc nghề dệt ở Lăng Can, Sự tích 99 ngọn núi Thượng Lâm,.
Nhiều truyện cổ tích gắn với địa danh như: Sự tích đèo Ái Âu, Sự tích sông Gâm, núi thần Chiêm Hoá,…; phong tục tập quán như: Người Dao kiêng ăn thịt chó (dân tộc Dao), Vì sao không dùng gỗ mít (dân tộc Cao Lan), Thần Bạch Ngưu (dân tộc Tày),… 13 1. Truyện ngụ ngôn Các truyện ngụ ngôn lưu truyền ở Tuyên Quang thường gắn với môi trường lao động sản xuất của mỗi cộng đồng trong gia đình và liên quan đến phong tục như truyện: Đẽo cày giữa đường (dân tộc Kinh), Hươu và rùa thi tài (dân tộc Tày), Sói và cọp (dân tộc Dao),… 1. Truyện cười Truyện cười dân gian lưu truyền ở Tuyên Quang thường có sự pha trộn với truyện ngụ ngôn như: tình huống bất đồng ngôn ngữ, không hiểu phong tục, những cái vô tình đáng tiếc, những điều trái tự nhiên, bài học về trí khôn,… với các truyện: Mua nồi đất, Hả tu lò, Ông quan lang và người hầu, Trí khôn, Người anh keo kiệt,… 2. Tục ngữ, câu đố 2.
Tục ngữ Kho tàng tục ngữ của các cộng đồng dân tộc ở Tuyên Quang là kho tri thức bách khoa về đời sống và có tính nghệ thuật cao. Nội dung của tục ngữ nói về: – Kinh nghiệm thời tiết, thời vụ: Trồng ngô chọn chân đồi Trồng lúa chọn khe suối. (Dân tộc Mông) – Kinh nghiệm về chăn nuôi, sản xuất: Ruộng sâu thu nhiều lúa Ao sâu thu nhiều cá. (Dân tộc Dao) – Về ý nghĩa lao động: Chăm chỉ mới có cái ăn Không chăm chỉ thì không có cái ăn.
(Dân tộc Pà Thẻn) – Về quan hệ gia đình và xã hội: Thương nhau nước lớn lội cũng qua Không thương nhau một vũng nước chân trâu cũng ngại. Câu đố Câu đố mang sắc thái trí tuệ, hồn nhiên. Sức hấp dẫn của câu đố là ở chỗ người đố tìm thấy trong hai sự vật hay hai hiện tượng khác nhau có điểm tương đồng về ý nghĩa, buộc người đáp phải có khả năng liên tưởng và nhanh trí nhận biết, tạo ra cái bất ngờ thú vị. Lấy vật dụng thường ngày để đố là đặc điểm của câu đố dân gian, nhưng tùy theo điều kiện sinh hoạt và tập quán mỗi cộng đồng dân tộc lại có cách đố mang những nét độc đáo riêng.
– Đồng bào Tày có những câu đố hay về con vật và cây cối: Con gì gầy gầy vác bốn tấm ván qua? (Là gì?) – Con chuồn chuồn Thứ gì ăn vào tháng chín mùa gặt? (Là gì?) – Quả mít – Đồng bào Sán Chay có kho tàng câu đố rất phong phú. Những sự vật hiện tượng đem đố ngay ở trong môi trường sinh hoạt: Trên kín dưới kín, ở dưới nói chuyện ầm ầm. (Là gì?) – Nhà sàn Cái gì bằng bằng không mọc cỏ? (Là gì?) – Mặt nước – Đồng bào Pà Thẻn lại có những câu đố không kém phần chân thực, vừa tinh tế, hồn nhiên, thú vị: Khi ở trong nhà bé bằng bắp tay Khi bước ra cửa bằng cái nia? (Là gì) – Cái ô – Câu đố của đồng bào Dao gắn với môi trường lao động và sinh hoạt: Không dao mài mà sắc. (Là gì?) – Cây lau Trên có một cái ô Dưới có một ổ trứng? (Là gì?) – Khoai sọ 15 – Đồng bào Mông có cách nhìn tạo vật rất hồn nhiên: Nhảy nhảy đi, nhảy nhảy lại Nhảy mãi không thôi.
Ca dao Ca dao Tuyên Quang đề cập đến quan niệm về vũ trụ, nhân sinh và tình yêu quê hương, tình yêu lao động, kinh nghiệm sản xuất và đấu tranh xã hội, tình yêu đôi lứa. – Quan niệm về vũ trụ: Từ hòn đá to Vỡ ra hai con người. (Dân tộc Sán Chay) – Tình yêu đôi lứa: Con đường tốt là con đường đi tìm nhau Ở đâu cũng về, ở đâu cũng đến Không biết ở gần hay ở xa Ta đi tìm con đường hạnh phúc. (Dân tộc Pà Thẻn) (Theo Địa chí Tuyên Quang, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, 2014) Kể tên các thể loại văn học dân gian Tuyên Quang và nêu đặc điểm của mỗi thể loại đó.
VĂN BẢN SỰ TÍCH THÁC BẢN BA Ngày xửa ngày xưa, ở núi Hoa Trung có một cô gái Tày con quan Thổ ti tên là nàng Ba, nhan sắc xinh đẹp, thuỳ mị, nết na. Khi trưởng thành, nàng đem lòng yêu thương một người con trai cùng làng, con nhà nghèo, khoẻ mạnh, giỏi giang. 16 Theo quy định của chế độ Thổ ti thì các cô con gái nhà quan đều gọi là nàng và không được phép lấy các chàng trai người Tày cùng bản, vì quan phụ mẫu là cha mẹ, dân trong địa phương là con dân, khi gặp quan hay người nhà quan, dân phải cúi rạp xuống chào. Thác Bản Ba (huyện Chiêm Hoá) Đôi trai gái yêu nhau tha thiết, biết không thể vượt qua quy định ngặt nghèo của họ tộc nên đã hò hẹn rủ nhau chạy đi một nơi thật xa, thoát khỏi phong tục hà khắc của dòng tộc mới có thể chung sống với nhau trọn đời.
Thế rồi họ trốn nhà mải miết ra đi, đi mãi đến khi trời tối buộc phải ngủ lại giữa rừng sâu, dưới một cây ngoã mật to, quả chín thơm lừng. Họ chặt lá ngoã trải thành chiếu, ngồi bên nhau rì rầm tâm sự, than thở, khóc lóc, nước mắt chảy thành dòng thác cứ chảy rì rào, ai oán. Những tiếng thì thì thầm thầm của họ vào lúc đêm khuya trong rừng sâu khiến người ta tưởng là tiếng kêu của loài diều hâu ăn đêm (tiếng Tày là Lăm Củm) nên họ gọi thác này là thác Củm (tiếng Tày là Tát Củm). Sáng hôm sau, họ tiếp tục leo lên đỉnh núi, cố đi thật nhanh, đi mãi vẫn không gặp được làng bản nào, cho đến khi mặt trời lặn họ lại phải tìm chỗ dừng chân ngủ lại.
Họ cắt lá móc, một loại lá có hương thơm thoang thoảng mọc ngay cạnh chỗ họ dừng chân, trải thành chiếu ngồi bên nhau, nàng lại than thở, khóc lóc, thảm thiết hơn, nước mắt chảy thành dòng thác cao hơn, dữ dội hơn gọi là thác Cao (tiếng Tày là Tát Thung). Sáng ngày thứ ba họ lại tiếp tục đi lên cao nữa, đi mãi đến một nơi thấy bốn bề gió lộng, Mặt Trời tắt nắng. Họ lại phải dừng chân ngủ lại, cắt lá dong trải thành 17 chiếu và ngồi bên nhau than thở, oán thán suốt đêm, nước mắt của nàng lại chảy thành dòng thác tung bọt trắng xoá. Hôm sau, khi Mặt Trời mọc, họ mới biết rằng đây đã là đỉnh núi rất cao, gió rít ào ào nhìn ra bốn phía đều là núi rừng trùng điệp, mây mù bao phủ, không hi vọng tìm được nơi nào có bản, làng để sinh sống với nhau, nên vợ nên chồng.
Trước mắt là một vực sâu thăm thẳm, nước dưới khe lạnh ngắt gọi là Nặm Dân cuồn cuộn chảy, hai bên vách đá dựng đứng, muốn đi tiếp chỉ có cách duy nhất là bám vào những sợi dây rừng leo ở các ngọn cây cao để đu sang, chỉ thanh niên khoẻ mạnh mới có thể qua được. Chàng trai hết sức buồn rầu, nói với người yêu: “Vực sâu này đã ngăn cách không cho chúng ta đi cùng nhau được nữa, bây giờ em hãy trở về nhà chờ đợi, anh sẽ đi tìm việc làm, khi có tiền anh sẽ lập tức trở về xin cưới em làm vợ. Khi đó anh là người ở vùng khác đến là người khá giả, có tiền nhất định bố mẹ em và họ hàng sẽ đồng ý.” Hai người thề nguyền, họ lấy gai trích hai đầu ngón tay đeo nhẫn để hai giọt máu hoà vào nhau thề nguyền ai phản bội sẽ bị trời tru đất diệt. Nàng quyết tâm chờ đợi, chàng quyết trở về với thời gian nhanh nhất.
Giờ phút chia li, hai người quyến luyến không rời, tình cảm trào dâng mãnh liệt, gió trên đỉnh núi rít ào ào, nước mắt hai người tuôn như thác đổ, làm thành dòng gầm gào, ai oán, đau thương, thác này gọi là thác Gió (tiếng tày là Tát Lồm).