mở đầu bằng một câu giới thiệu bối cảnh: “Ngày xưa, có hai ông bà rất hiền lành nhưng không có con bèn lên chùa cầu khấn”. Kết thúc truyện cũng có hậu: “Vua nhường ngôi cho thái tử. Thái tử và nàng Út cùng sống hạnh phúc, giàu sang suốt đời”. Truyện ngụ ngôn Nam Bộ thường có câu bình luận ở cuối tác phẩm.
Có lẽ người kể sợ rằng nếu không giải thích thì người nghe sẽ khó hiểu được ý nghĩa 13 hàm ẩn của câu chuyện. Trong truyện ngụ ngôn Bướm và sâu (Khmer), người kể kết thúc bằng lời khuyên: “Ngạn ngữ có câu: “Thành bướm đừng có quên sâu”. Đó là một lời nhắc nhở đáng quý đối với ai mau quên gốc gác của mình”. Giống như ca dao Bắc Bộ, ca dao ở thành phố Cần Thơ cũng thường được sáng tác theo ba thể: phú, tỉ, hứng.
Phú là miêu tả sự vật hiện tượng: “Phong Điền chợ nổi trên sông/ Bồng bềnh mặt nước chợ đông sớm chiều”,. Tỉ là lấy sự vật này so sánh với sự vật kia: “Xoài nào ngon bằng xoài Cao Lãnh/ Vú sữa nào ngọt bằng vú sữa Cần Thơ”,… Hứng là nhân sự việc này, nhắc đến sự việc kia: “Đèn treo Vàm Xáng/ Tỏ rạng Vàm Kinh/ Anh ra đây sao chịu chữ làm thinh/ Hay là anh chê tôi không xứng người tình của anh?”. Ca dao ở vùng đất Cần Thơ cũng sử dụng các biện pháp tu từ quen thuộc như: so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hoá, điệp, đối,. Chúng tạo được bản sắc riêng do lấy chất liệu từ những sự vật quen thuộc của vùng Đồng bằng sông Cửu Long: “Lục bình mấy kiếp trôi sông/ Trôi ra rồi lại theo dòng trôi vô”, “Nước chảy liu riu, lục bình trôi riu ríu/ Anh ở một mình, khi đau yếu ai nuôi?”.
Có bài kết hợp nhiều thủ pháp tu từ, đồng thời tạo được bản sắc riêng do gắn liền với địa danh Cần Thơ. Đất Châu Thành anh ở Xứ Cần Thơ em về [5] Hãy cho biết các biện pháp tu từ Bấy lâu sông cận biển kề trong bài ca dao này. Phận tay mai trúc dầm dề hột châu. Phương ngữ trong văn học dân gian thành phố Cần Thơ Để phân biệt ca dao Nam Bộ với với ca dao Bắc Bộ, người ta thường căn cứ vào phương ngữ.
Ca dao Nam Bộ mang bản sắc riêng ở chất liệu hiện thực và phương ngữ: “Má ơi đừng gả con xa/ Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu”, “Hát một câu, thấu tới trong buồng/ Kêu anh thức dậy, đẩy xuồng bơi theo”. Trong phương ngữ Nam Bộ, có nhiều từ ngữ gốc Khmer. Những từ ngữ này cũng đi vào ca dao người Việt và rất khó nhận ra. Một số địa danh Nam Bộ cũng có nguồn gốc Khmer, chúng đã góp phần tạo ra bản sắc riêng của ca dao Nam Bộ.
– Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No Có thương em, anh mua cho một chiếc đò Để em lên xuống thăm dò ý anh! – Chiều chiều cò lượn Bằng Lăng Ô Môn bưởi ngọt, Cái Răng hữu tình. 14 Truyện dân gian người Việt cũng mang bản sắc phương ngữ Nam Bộ. Trước đây, người dân vùng sông Hậu thường truyền tụng truyện cười của Tám Cồ. Các truyện này mang bản sắc phương ngữ Nam Bộ và có nói đến các hình ảnh, sinh hoạt quen thuộc của người dân địa phương: “Một hôm, tui đi thăm ruộng dìa gặp ông Chánh hội.
Ổng nghe nói tui là tay nói dóc tổ nên biểu: “Vô nói dóc chơi chú Tám!”. Biết ổng khoái nhậu, tui đáp liền xì: “Ở đó mà nói dóc. Hồi hôm, tui chài được mấy con cá chẽm bằng bắp vế, bà xã còn rọng ở nhà. Dìa nhà tui nhậu chơi”” (Biểu nói dóc thì nói dóc).
VĂN HỌC DÂN GIAN THÀNH PHỐ CẦN THƠ TrONG xã HộI HIỆN ĐẠI Trong xã hội hiện đại, các thể loại văn học dân gian vẫn hiện diện dưới nhiều hình thức khác nhau. Một số truyện thần thoại, cổ tích, truyền thuyết được chuyển thể thành kịch bản sân khấu. Giai thoại và truyện cười vẫn tiếp tục phát triển với những nội dung hiện đại. Các thể loại văn vần rất phổ biến.
Có nhiều bài vè sáng tác từ giữa thế kỉ XX trở đi như: Vè đánh Tây, Vè đấu tranh trong tù, Vè người cộng sản, Vè Chiến sĩ Tây Đô,… Người ta vẫn sáng tác câu đố với nội dung hiện đại: “Hai cây cùng có một tên/ Cây xoè mặt nước, cây trên chiến trường/ Cây này bảo vệ quê hương/ Cây kia hoa nở soi gương mặt hồ” (cây súng),… Ca dao vẫn tiếp tục được sáng tác và lưu truyền. Người ta gọi đây là ca dao mới. Ban đầu, những bài này được một nhà thơ nào đó sáng tác nhưng trong quá trình lưu truyền, người ta không nhớ tác giả. Tác phẩm đó trở thành thơ ca dân gian.
Ví dụ như: “Cần Thơ cảnh vật tươi xinh/ Gợi lòng du khách đậm tình nước non”, “Quê tôi Vĩnh Thạnh anh hùng/ Trẻ già trai gái một lòng đánh Tây”, “Vòng Cung đi dễ khó về/ Đạn chen đầu đạn, bom kề hố bom”… Để nhận ra một bài thuộc loại ca dao mới, ta có thể căn cứ vào các chi tiết, hình ảnh được nhắc đến. Chẳng hạn, trong bài ca dao sau đây, có hình ảnh “bánh bích quy”, một món ăn thời hiện đại: Chợ Bình Thuỷ bán bánh bao chỉ Chợ Sài Gòn bán bánh bích quy Anh đứng làm trai sao không biết nghĩ suy Vợ anh còn, con anh sẵn, nghĩa lí gì anh thương em. Ca dao hiện đại thường gắn với những sự kiện xã hội trong thế kỉ XX. Nó giúp ta hiểu thêm nhiều vấn đề về văn hoá, lịch sử, địa lí địa phương.
Vào đầu thế kỉ XX, người Pháp dùng những chiếc xáng lớn để đào múc kênh rạch, mở rộng thông thương. Từ đây, trai gái hát hò trên sông cũng nhắc đến hình ảnh chiếc xáng: “Kinh xáng mới đào, tàu Tây mới chạy/ Thương em thương đại, đừng ngại gần xa”, “Chừng nào chiếc xáng nọ bung vành/ Tàu Tây kia liệt máy, anh mới đành bỏ em”… Những hình ảnh của cuộc sống hiện đại đã đi vào ca dao Cần Thơ: 15 Đèn nào cao bằng đèn chợ Mỹ Lộ nào kĩ bằng lộ Cần Thơ Anh thương em lững đững lờ đờ Tỉ như tình Điệp ngồi chờ tình Lan. Nhìn chung, văn học dân gian thành phố Cần Thơ rất đa dạng, có sự góp mặt của nhiều dân tộc, tôn giáo, tầng lớp xã hội. So với một số tỉnh miền Tây Nam Bộ, vùng đất Cần Thơ có thế mạnh trong các loại hình diễn xướng dân gian, nhất là tuồng.
Ngày nay, nhiều thể loại văn học dân gian vẫn tiếp tục được sáng tác và lưu truyền. Văn học dân gian thành phố Cần Thơ tỏ ra thích ứng, bắt nhịp nhanh chóng với xã hội hiện đại, góp phần vào sự phát triển của địa phương, nhất là trong lĩnh vực văn hoá – du lịch. Chỉ ra một vài nét đặc thù của văn học dân gian thành phố Cần Thơ so với văn học dân gian các tỉnh Bắc Bộ. Cho biết mối liên hệ giữa văn học dân gian của người Khmer và văn học dân gian của người Việt ở thành phố Cần Thơ.
Ở thành phố Cần Thơ hiện nay, những thể loại văn học dân gian nào vẫn tiếp tục được sáng tác và lưu hành? Cho ví dụ. Lập dàn ý thể hiện các luận điểm chính trong bài viết trên. Tóm tắt bài viết trên thành một văn bản ngắn (khoảng một trang A4), có kết cấu ba phần. VẬN DỤNG Em hãy sưu tầm văn học dân gian ở Cần Thơ và sắp xếp chúng theo từng nhóm thể loại: – Văn xuôi: Thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, giai thoại, truyện cười,… – Văn vần: Ca dao, các thể loại dân ca, tục ngữ, câu đố, vè,… – Kịch: Tuồng, cải lương, rô băm, dù kê,… 16 BÀI 2: TrUYỆN DÂN GIAN THÀNH PHỐ CẦN THƠ B TỤC THỜ CỌP Ở CÁI RĂNG Hình 1.
Miếu thờ ông Bạch Hổ ở đình Thường Thạnh (Tác giả: Duy Khôi, Nguồn: canthotourism.vn) KHỞI ĐỘNG Em đã đến các miếu thờ cọp ở địa phương lần nào chưa? Cảm giác của em như thế nào khi bước vào các nơi thờ linh vật (cọp bạch, rắn thần, cá ông,.)? KHÁM PHÁ Thông tin trước khi đọc: Trong văn học dân gian Nam Bộ, thể loại truyền thuyết rất phát triển. Phần lớn nội dung của truyền thuyết Nam Bộ nói về những sự kiện văn hoá lịch sử từ thế kỉ XVIII về sau. Nhiều truyền thuyết – giai thoại liên kết thành một nhóm có liên quan tới một vài nhân vật lịch sử. Trên hành trình tránh quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh từng lưu lại nhiều nơi ở Nam Bộ.
Người dân thành phố Cần Thơ có lưu truyền nhiều truyền thuyết, giai thoại về ông. Trong đó, có truyền thuyết về địa danh Cần Thơ, miếu thờ ông Bạch Hổ ở Cái Răng, giai thoại về Bùi Hữu Nghĩa,… Từ thuở khai hoang mở cõi, người Việt ở Nam Bộ phải đối phó với cọp, beo, cá sấu, rắn độc,… Người ta sợ oai linh của cọp nên gọi cọp là Ông Dần, Ông Cả, Ông Ba Mươi, Hương Cả Cọp, Chúa xứ sơn lâm,… Từ chỗ sợ cọp, họ sinh ra tục thờ cúng cọp để được yên ổn. Một số nơi thờ cọp vì chúng có công giúp đỡ con người. Ở thành phố Cần Thơ, có nhiều đình miếu thờ thần cọp ở làng Long Tuyền (Bình Thuỷ), làng Phước Thới (Ô Môn), làng Thường Thạnh (Cái Răng),… 17 Đọc văn bản: Từ xưa, vùng Cái Răng là rừng rậm hoang vu.
Dưới [1] Có một truyện cổ tích rạch đầy cá sấu, trên rừng đầy cọp beo. Cây cối mọc um tùm không có lối đi. Người Khmer sống rải rác khác ở thành phố Cần Thơ cũng một số nơi dọc theo sông lớn. Họ chuyên làm “cà giải thích tên gọi Cái Răng.
Đó ràng” (ông táo) và chở đi bán dọc vùng sông Hậu. là truyện nào? Cho nên, người Việt kêu vùng này là Cái Răng. [1] Một năm nọ, quân Nguyễn Ánh bị Tây Sơn truy đuổi, phải chạy vô các sông rạch vùng sông Hậu. Trong đêm vắng vẻ, Nguyễn Ánh nghe có tiếng đờn địch ca hát ngâm thơ từ xa vọng lại.
Ngài không ngờ ở chỗ xa xôi hẻo lánh này cũng có văn nghệ nên xúc động đặt tên một con sông nhỏ ở đây là “Cầm Thi Giang” (sau này, đọc là sông Cần Thơ). Sau khi lánh ở đây một thời gian, cảm thấy không an toàn, Nguyễn Ánh tiếp tục lui quân ra đảo Phú Quốc. Một toán lính không muốn theo Chúa Nguyễn ra hòn đảo xa xôi ấy nên trốn vô rừng rậm Cái Răng. Họ phải tìm đến chỗ thiệt hẻo lánh để không bị Tây Sơn phát hiện.
Rồi họ bị lạc trong rừng, sống trong cảnh cơ cực, thiếu thốn trăm bề. Ban đêm, họ phải ngủ trên cây để tránh thú dữ.