Chịu trách nhiệm xuất bản: Q. GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP PHẠM CHÍ THÀNH Chịu trách nhiệm nội dung: PHÓ GIÁM ĐỐC - PHÓ TỔNG BIÊN TẬP TS. ĐỖ QUANG DŨNG Biên tập nội dung: ThS. PHẠM THỊ THINH TS.
HOÀNG MẠNH THẮNG ThS. ĐỖ PHƯƠNG MAI TRẦN PHAN BÍCH LIỄU Trình bày bìa: HÀ LAN Chế bản vi tính: PHẠM THU HÀ Đọc sách mẫu: PHÒNG BIÊN TẬP KỸ THUẬT VIỆT HÀ Số đăng ký kế hoạch xuất bản: 4854-2020/CXBIPH/22-347/CTQG. Số quyết định xuất bản: 5630-QĐ/NXBCTQG, ngày 01/12/2020. Nộp lưu chiểu: tháng 12 năm 2020.
Biªn môc trªn xuÊt b¶n phÈm cña Th viÖn Quèc gia ViÖt Nam Tµi liÖu båi dìng lý luËn chÝnh trÞ dµnh cho häc viªn líp ®èi tîng kÕt n¹p §¶ng. - T¸i b¶n cã söa ch÷a, bæ sung. : ChÝnh trÞ quèc gia, 2020. ; 13x19cm §TTS ghi: Ban Tuyªn gi¸o Trung ¬ng ISBN 9786045754689 1.
§¶ng Céng s¶n ViÖt Nam 2. Lý luËn chÝnh trÞ 3.2597075 - dc23 CTF0458P-CIP TẬP THỂ TÁC GIẢ PGS. NGUYỄN VIẾT THÔNG PGS. NGÔ ĐÌNH XÂY PGS.
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HOA ThS. MAI YẾN NGA ThS. TRẦN THỊ THÙY LỜI NÓI ĐẦU Tài liệu bồi dưỡng lý luận chính trị dành cho học viên lớp đối tượng kết nạp Đảng do Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng biên soạn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản nhằm giúp những người có nguyện vọng gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam nắm được khái lược lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; những nội dung cơ bản của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam và phương hướng phấn đấu trở thành đảng viên. Đây là những nội dung cơ bản trong chương trình bồi dưỡng lý luận chính trị dành cho học viên lớp đối tượng kết nạp Đảng.
Trên cơ sở đó, mỗi người xây dựng động cơ vào Đảng đúng đắn, tích cực phấn đấu và rèn luyện để trở thành đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tài liệu gồm 5 bài: Bài 1: Khái lược lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Bài 2: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Bài 3: Nội dung cơ bản của Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam.
5 Bài 4: Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Bài 5: Phấn đấu trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Xin trân trọng giới thiệu tài liệu cùng bạn đọc. Tháng 02 năm 2020 BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG ĐẢNG NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT 6 Bài 1 KHÁI LƯỢC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Trong gần 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử, mở ra kỷ nguyên mới trong sự phát triển của dân tộc ta: kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, là cả một pho lịch sử bằng vàng. Kho tàng lịch sử quý giá đó không chỉ gồm những sự kiện lịch sử oanh liệt, hào hùng của Đảng và dân tộc mà còn là những kinh nghiệm, những bài học lịch sử, những vấn đề lý luận cách mạng Việt Nam được tổng kết từ hiện thực lịch sử. Học tập, nghiên cứu lịch sử Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về lý luận và thực tiễn đối với mỗi chúng ta. 7 I- ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI, BƯỚC NGOẶT QUYẾT ĐỊNH CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM 1.
Tình hình xã hội Việt Nam trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời Từ năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu tiến hành xâm lược Việt Nam, từng bước thiết lập chế độ thống trị của chủ nghĩa thực dân trên đất nước ta. Về chính trị, thực dân Pháp thi hành chính sách cai trị chuyên chế, trực tiếp nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong bộ máy nhà nước, tước hết quyền độc lập, quyền tự do, dân chủ của Nhân dân ta, biến một bộ phận giai cấp tư sản mại bản và địa chủ phong kiến Việt Nam thành tay sai đắc lực, tiến hành đàn áp dã man mọi phong trào yêu nước, ngăn chặn ảnh hưởng của các trào lưu tiến bộ từ bên ngoài vào nước ta. Về kinh tế, thực dân Pháp thực hiện chính sách độc quyền, kìm hãm sự phát triển kinh tế độc lập của nước ta, bóc lột tàn bạo Nhân dân ta, triệt để khai thác Đông Dương vì lợi ích của giai cấp tư sản Pháp. Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, vô nhân đạo và duy trì bóc lột kiểu phong kiến., đẩy Nhân dân ta vào cảnh bần cùng, làm cho nền kinh tế bị què quặt, 8 lệ thuộc vào kinh tế Pháp, để lại hậu quả nghiêm trọng, kéo dài.
Về văn hóa - xã hội, thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân, khuyến khích văn hóa nô dịch, sùng Pháp, kìm hãm Nhân dân ta trong vòng tăm tối, dốt nát, lạc hậu, phục tùng sự cai trị của chúng. Quá trình khai thác thuộc địa triệt để của thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam có những biến đổi, bên cạnh các giai cấp đã có trong xã hội phong kiến, xuất hiện hai giai cấp mới, đó là: giai cấp công nhân và giai cấp tư sản. Nước ta từ chế độ phong kiến chuyển sang chế độ thuộc địa nửa phong kiến. Trong xã hội tồn tại hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược; mâu thuẫn giữa Nhân dân ta, chủ yếu là nông dân, với giai cấp địa chủ phong kiến tay sai, chỗ dựa cho bộ máy thống trị và bóc lột của chủ nghĩa thực dân Pháp.
Hai mâu thuẫn đó có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó mâu thuẫn giữa dân tộc ta với thực dân Pháp xâm lược là mâu thuẫn chủ yếu. Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ chống thực dân Pháp xâm lược và nhiệm vụ chống địa chủ phong kiến tay sai không tách rời nhau. Đấu tranh giành độc lập dân tộc gắn chặt với đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ. 9 Đó là yêu cầu đặt ra với cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX cần được giải quyết.
Phong trào đấu tranh của dân tộc ta trước khi Đảng ra đời Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước lâu dài, gian khổ, dân tộc ta sớm hình thành truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần đấu tranh anh dũng, bất khuất. Vì vậy, ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược, Nhân dân ta đã liên tiếp đứng lên chống lại chúng. Từ năm 1858 đến trước năm 1930, hàng trăm cuộc khởi nghĩa lớn, phong trào chống thực dân Pháp đã nổ ra theo nhiều khuynh hướng khác nhau, như khởi nghĩa của Trương Công Định, Thủ Khoa Huân, phong trào Cần Vương, phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, Duy Tân; các cuộc khởi nghĩa do Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học. Các cuộc khởi nghĩa, phong trào đấu tranh đó vô cùng anh dũng, nhưng đã bị thực dân Pháp đàn áp tàn bạo và cuối cùng đều thất bại.
Nguyên nhân cơ bản dẫn tới thất bại của các phong trào đấu tranh là do những người đứng đầu các cuộc khởi nghĩa, các phong trào chưa tìm được con đường cứu nước phản ánh đúng nhu cầu phát triển của thời đại và xã hội Việt Nam. Cách mạng nước ta đứng trước 10 sự khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước. Việc tìm một con đường cứu nước đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc và thời đại là nhu cầu bức thiết nhất của dân tộc ta lúc bấy giờ. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tìm đường cứu nước và sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam Trong lúc cách mạng Việt Nam đang lâm vào cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, ngày 05/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh) ra nước ngoài, bắt đầu đi tìm đường cứu nước.
Người đã qua nhiều nơi trên thế giới, vừa lao động kiếm sống, vừa học tập, nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm các cuộc cách mạng tư sản điển hình (Pháp, Mỹ), tích cực tham gia hoạt động trong Đảng Xã hội Pháp, qua đó để tìm đường cứu nước, giành lại độc lập dân tộc. Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi đã ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc. Người rất ngưỡng mộ cuộc cách mạng đó, kính phục V. Lênin và đã tham gia nhiều hoạt động ủng hộ, bảo vệ cách mạng Nga; tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.
Những hoạt động cách mạng phong phú đó đã giúp Người từng bước rút ra những bài học quý báu và bổ ích cho sự lựa chọn con đường cách mạng của mình. 11 Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V. Luận cương đã giải đáp trúng những vấn đề mà Nguyễn Ái Quốc đang trăn trở. Từ đây, Người đã tìm ra con đường cứu nước, cứu dân đúng đắn: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản"1.
Đó là sự xác định đúng đắn những vấn đề cơ bản của đường lối giải phóng dân tộc, con đường giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, giai cấp vô sản phải nắm lấy ngọn cờ giải phóng dân tộc, gắn cách mạng dân tộc từng nước với phong trào cách mạng trên thế giới. Đối với Nguyễn Ái Quốc, trong cuộc đời hoạt động của mình, giai đoạn 1917 - 1920 đã đánh dấu bước ngoặt từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa cộng sản, từ một chiến sĩ giải phóng dân tộc trở thành một chiến sĩ cộng sản quốc tế. Sự kiện đó cũng đánh dấu bước ngoặt trong sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam đầu tiên tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào nước ta, tìm ra con đường đúng đắn giải phóng dân tộc Việt Nam.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t. 12 Trở thành chiến sĩ cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực tham gia hoạt động trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào cách mạng thuộc địa; nghiên cứu và truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam qua các báo Người cùng khổ, Nhân đạo, Đời sống công nhân và sau này là tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (năm 1925). Sau một thời gian ngắn tham gia học tập ở Liên Xô và hoạt động trong Quốc tế Cộng sản, tháng 11/1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc) trực tiếp chỉ đạo việc chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.