Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Thực trạng tái cấu trúc tại các ngân hàng thương mại Việt Nam Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Hàm ý quản trị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tái cấu trúc ngân hàng 2.1 Tái cấu trúc ngân hàng là gì? Rất nhiều nghiên cứu trước đây về tái cấu trúc ngân hàng đã cho thấy nhiều cách tiếp cận khác nhau .Trong đó, tái cấu trúc ngân hàng là sự phối hợp một loạt các biện pháp nhằm duy trì khả năng thanh toán của ngân hàng và tình hình tín dụng.Đồng thời, ngăn chặn xử lý các vấn đề tồn đọng là nguyên nhân gây ra khủng hoảng ngân hàng.Tái cấu trúc ngân hàng được thực hiện để “tẩy sạch” hệ thống ngân hàng, thúc đẩy nhanh phá sản các ngân hàng yếu kém và đẩy mạnh các thương vụ sáp nhập và mua lại ngân hàng (S. Tương tự, theo Hoenig & Morris (2012), tái cấu trúc ngân hàng thường được thực hiện để giải quyết các vấn đề trong các ngân hàng tư nhân đang trải qua khủng hoảng hoặc để giải quyết các vấn đề ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống ngân hàng. Hoggarth Et Al (2004) cho rằng các yếu tố chính dẫn đến tái cấu trúc ngân hàng bao gồm; thất bại ngân hàng, lợi nhuận thấp. Các ngân hàng kém hiệu quả, có quy mô nhỏ, thiếu vốn, không thanh khoản tốt và ngân hàng ở giai đoạn đầu của khủng hoảng tài chính có thể tái cấu trúc ngân hàng (Demirguc-kunt và Huzinga, 1999; Hoenig và Moris, 2012).
Tái cấu trúc ngân hàng được thực hiện chủ yếu để tăng cường hiệu quả tài chính và đôi khi, áp đặt kiểm tra và cân bằng để giảm khả năng khủng hoảng tài chính có thể có tác động của địa phương hoặc toàn cầu (Birchil & Simmons, 2010). Nhìn chung, phần lớn các giả thuyết về tái cấu trúc ngân hàng là nhằm ngăn chặn khủng hoảng ngân hàng từ sự thất bại trong hoạt động , kinh doanh kém hiệu quả dẫn đến nguy cơ phá sản. Mặt khác, theo quan điểm của Claudia Dziobek và Ceyla Pazarbasioglu, tái cấu trúc ngân hàng là biện pháp hướng tới mục tiêu chính là nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng, cải thiện hoạt động và khôi phục khả năng sinh lời cũng như nâng cao niềm tin của công chúng cho hệ thống ngân hàng. Hoạt động tái cấu trúc có sự tham gia của cả ba đối tượng là nhà nước, ngân hàng và người dân (Goodhart,1988).
Trong đó, tái cấu trúc thường được hiểu theo 2 hướng : theo nghĩa rộng , tái cấu trúc hướng tới tất cả các bộ phận cấu thành của hệ thống như:NHTW, NHTM, Ngân hàng chính sách xã hội và ngân hàng phát triển, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 hệ thống các tổ chức tín dụng vi mô. Nếu xét theo nghĩa hẹp, tái cấu trúc chỉ bao gồm việc giải quyết các vấn đề phát sinh của một thành phần trong các thành phần trên của hệ thống hoặc chỉ một ngân hàng có nguy cơ khủng hoảng trong điều kiện toàn hệ thống vẫn hoạt động hiệu quả. Tái cấu trúc ngân hàng xét theo loại được chia làm 4 loại: tái cấu trúc tài chính, tái cấu trúc hoạt động, tái cấu trúc tài sản và tái cấu trúc vốn. Tái cấu trúc tài chính tập trung vào cơ cấu tài chính của tổ chức ngân hàng và thường quan tâm đến tài sản và cơ cấu vốn của các tổ chức ngân hàng.
Phần quan trọng nhất của các khoản nợ ngân hàng là tiền gửi của khách hàng và nợ dài hạn có xu hướng hình thành một tỷ lệ rất nhỏ trong cơ cấu tài chính của các tổ chức ngân hàng. Tái cấu trúc hoạt động tập trung vào việc tổ chức lại các hoạt động của ngân hàng bao gồm cơ cấu quản trị của họ và cũng đòi hỏi phải đóng cửa các chi nhánh kém hiệu quả, cắt giảm các dòng sản phẩm để giảm chi phí hoạt động ngân hàng. Tái cấu trúc tài sản đòi hỏi phải giảm mức độ hoạt động kém trong ngân hàng khi tăng tính thanh khoản của tài sản bằng cách nắm giữ nhiều tài sản có khả năng thanh khoản mà trong đó đảm bảo rằng tỷ trọng lớn là tài sản tài chính và giảm mức nợ xấu thông qua trích lập dự phòng rủi ro và bán nợ xấu. Tái cấu trúc vốn liên quan đến việc tăng hiệu quả tài chính trong ngân hàng bằng cách thay thế nợ ngắn hạn và nợ dài hạn với các nghĩa vụ nợ dài hạn (bằng cách chuyển nợ thành vốn chủ sở hữu) để tăng cơ cấu tài chính của ngân hàng.( Dziobek & Pazarbasioglu ,1998) Theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới (1998), tái cấu trúc ngân hàng bao gồm một loạt các biện pháp được phối hợp chặt chẽ nhằm duy trì hệ thống thanh toán quốc gia và khả năng tiếp cận các dịch vụ tín dụng, đồng thời xử lý các vấn đề còn tồn tại trong hệ thống tài chính là nguyên nhân gây ra khủng hoảng.
Một định nghĩa khác, theo Dziobek và Pazarbasioglu (1998) thì tái cấu trúc ngân hàng là biện pháp hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu suất hoạt động của ngân hàng, bao gồm phục hồi khả năng thanh toán và khả năng sinh lời, cải thiện năng lực hoạt động của toàn hệ thống ngân hàng để làm tròn trách nhiệm của một trung gian tài chính và khôi phục lòng tin của công chúng. Theo quan điểm này thì tái cấu trúc ngân hàng bao gồm tái cấu trúc tài chính (financial restructuring), tái cấu trúc hoạt động (operational restructuring) và giám sát an toàn. Trong đó, tái cấu trúc tài chính hướng đến việc phục hồi khả năng thanh khoản bằng cách cải thiện bảng cân đối LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 của các ngân hàng thông qua các biện pháp như tăng vốn, giảm nợ, hoặc nâng giá trị tài sản. Tái cấu trúc hoạt động hướng đến mục tiêu nâng mức lợi nhuận bằng cách chú trọng hơn đến chiến lược hoạt động, cải thiện hiệu quả và năng lực quản lý và hệ thống kế toán, nâng cao năng lực thẩm định tín dụng.
Việc giám sát và các quy tắc an toàn được đặt ra nhằm mục tiêu cải thiện năng lực hoạt động của toàn bộ hệ thống ngân hàng dưới vai trò là trung gian tài chính. Ngô Thị Bích Ngọc (2007) cho rằng “Tất cả những biện pháp liên quan đến các mặt như: tái cấu trúc tài chính, tái cấu trúc tổ chức, tái cấu trúc hoạt động, đa dạng hóa nghiệp vụ ngân hàng, sáp nhập, giải thể ngân hàng, cổ phần hóa NHTM nhà nước… nhằm mục đích nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng nói chung đều thuộc về lĩnh vực tái cơ cấu ngân hàng”. Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng không phải là một hoạt động mang tính định kỳ. Các quốc gia chỉ tiến hành tái cấu trúc khi có những vấn đề điển hình nổi lên trong nền kinh tế nói chung và trong hoạt động của các ngân hàng.
Tái cấu trúc ngân hàng là các biện pháp nhằm khắc phục các khiếm khuyết của hệ thống ngân hàng (mà những khiếm khuyết này có khả năng gây ra một cuộc khủng hoảng trên toàn hệ thống), nhằm mục đích duy trì ổn định và hiệu quả chức năng trung gian tài chính của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế, đặc biệt là chức năng thanh toán và tín dụng, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM.2 Các biện pháp tái cấu trúc ngân hàng Dziobek & Pazarbasioglu (1998) đã tiến hành khảo sát trên 24 quốc gia thực hiện tái cấu trúc. Kết qủa cho thấy, mỗi quốc gia có những phương pháp tái cấu trúc ngân hàng khác nhau như: i) Đóng cửa các ngân hàng yếu kém,(ii) Chính phủ bơm vốn hoặc mua cổ phiếu để nắm quyền quản lý,(iii)Thành lập công ty quản lý tài sản,(iv) Sáp nhập ngân hàng trong nước với ngân hàng nước ngoài,(v)Sáp nhập ngân hàng trong nước với nhau (vi) Thay đổi cơ cấu sở hữu ngân hàng như hình thức tư nhân hoá. Trong một nghiên cứu khác, S. Aleksashenko (2000) cho rằng cần có sự can thiệp của NHTW, cụ thể, NHTW sẽ cho các NHTM thời gian để xem xét và đánh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 gía lại hoạt động, lợi nhuận và những điểm bất ổn nhằm có những biện pháp can thiệt kịp thời, điển hình là ngân hàng Nga trong giai đoạn này đã có những biện pháp can thiệp kiểm soát hoạt động các ngân hàng lớn khác tại nước này.Tuy nhiên, biện pháp này có thể không khả thi trong trường hợp các chính sách của NHTW là không kiên quyết và không phù hợp, đặc biệt là tại các nước Đông Nam Á.
Năm 2009, Thoraneenitiyan & Avkiran có bài nghiên cứu đề cập đến trọng tâm tái cơ cấu ngân hàng bao gồm các biện pháp liên quan đến quyền sở hữu ngân hàng, cụ thể là, sáp nhập, cho phép các ngân hàng nước ngoài tham gia và sự can thiệp của nhà nước.Quan trọng hơn, nghiên cứu của tác giả cho rằng, việc sáp nhập ngân hàng thường không cho thấy hiệu quả ở các nước phát triển nhưng lại mang lại kết quả tốt tại các nước đang phát triển, trừ trường hợp sáp nhập với ngân hàng nước ngoài. Tóm lại, có thể thấy phương pháp tái cấu trúc phổ biến thường được đề cập đến trong các nghiên cứu trước gồm một số phương pháp: • Hợp nhất, sáp nhập các ngân hàng Giải pháp này đã được nêu ra trong đề án cơ cấu lại các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015 nhằm cơ cấu các TCTD lành mạnh:”Khuyến khích, tạo điều kiện cho các TCTD sáp nhập, hợp nhất, mua lại theo nguyên tắc tự nguyện để tăng quy mô hoạt động và khả năng cạnh tranh”.Có thể thấy, thông qua các thương vụ sáp nhập ngân hàng giai đoạn này, đây là giải pháp được sử dụng nhiều nhất và phổ biến nhất. Phần lớn các nghiên cứu đều cho thấy mức độ cải thiện đáng kể về hiệu quả của các ngân hàng khi sáp nhập như nghiên cứu của Vennet (1996) về tác động của các vụ sáp nhập và hiệu quả của ngành ngân hàng Liên minh Châu Âu bằng cách sử dụng một số chỉ tiêu tài chính quan trọng và phân tích ngẫu nhiên trong giai đoạn 1988- 1993 và thấy rằng việc sáp nhập cải thiện hiệu quả của các ngân hàng tham gia.al (1997) đã kiểm tra hiệu quả giá cả và hiệu quả của các vụ sáp nhập lớn trên ngành ngân hàng Mỹ và nhận thấy rằng sau khi các ngân hàng sáp nhập đã có hiệu quả lợi nhuận cao hơn trước khi sáp nhập. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.