Tổng quan luận án
Công trình khoa học “Vị trí các tác phẩm Piano của Ludwig van Beethoven trong đào tạo Piano chuyên nghiệp tại Việt Nam” được nghiên cứu sinh Trịnh Minh Trang thực hiện và bảo vệ năm 2020 tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, thuộc chuyên ngành Âm nhạc học.
Đàn Piano được du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX, song hoạt động đào tạo chuyên nghiệp chính thức bắt đầu từ khi thành lập Trường Âm nhạc Việt Nam vào năm 1956. Trải qua hơn sáu mươi năm phát triển, hệ thống đào tạo Piano chuyên nghiệp của Việt Nam đã hình thành quy trình đào tạo tương đối hoàn chỉnh từ bậc Trung học dài hạn (hệ 9 năm và 11 năm) đến Đại học và Cao học. Trong khung chương trình giảng dạy, các sáng tác viết cho Piano của Ludwig van Beethoven chiếm vị trí hàng đầu và có tính chất xuyên suốt, đóng vai trò trang bị cho học sinh, sinh viên (HSSV) Việt Nam tư duy nghệ thuật cùng kỹ năng làm chủ nhạc cụ. Tuy nhiên, tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ một khoảng trống nghiên cứu cụ thể: tại Việt Nam, chưa có công trình khoa học chuyên sâu nào tìm hiểu, đánh giá một cách đầy đủ và toàn diện về các đặc điểm âm nhạc cùng giá trị sư phạm, biểu diễn của các tác phẩm Piano của Beethoven dành riêng cho đối tượng người học Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu của luận án là xác lập mối quan hệ khoa học biện chứng giữa các tác phẩm viết cho Piano của Beethoven được sử dụng phổ biến trong đào tạo tại Việt Nam với việc phát huy thế mạnh và khắc phục hạn chế của HSSV Việt Nam chuyên ngành Piano.
Mục tiêu nghiên cứu được xác định gồm hai nội dung chính:
- Đánh giá ảnh hưởng của các tác phẩm tiêu biểu viết cho Piano của Beethoven trong đào tạo Piano chuyên nghiệp tại Việt Nam.
- Nâng cao hiệu quả xử lý các tác phẩm viết cho Piano của Beethoven để thể hiện đúng phong cách âm nhạc của tác giả.
Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm:
- Ludwig van Beethoven dưới các khía cạnh: Nhạc sĩ sáng tác, Nghệ sĩ Piano và Nhà sư phạm mẫu mực.
- Các tác phẩm tiêu biểu sáng tác cho Piano độc tấu của Beethoven trong các cơ sở đào tạo Piano chuyên nghiệp tại Việt Nam nói chung và tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam nói riêng.
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở hai phương diện:
- Về tác phẩm: Tập trung vào các thể loại được sử dụng nhiều nhất trong chương trình đào tạo, gồm 32 bản Sonata cho Piano độc tấu, 05 bản Concerto cho Piano và dàn nhạc, cùng hơn 20 bản Biến tấu cho Piano độc tấu.
- Về không gian và địa bàn: Hoạt động giảng dạy các tác phẩm Piano của Beethoven trong hệ thống đào tạo Piano chuyên nghiệp tại Việt Nam, lấy Khoa Piano - Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam làm điểm nghiên cứu mẫu.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài được tác giả phân loại và điểm luận thành hai nhóm chính gồm các tài liệu quốc tế và các công trình trong nước:
Nhóm công trình nghiên cứu ở nước ngoài:
- Nhóm nghiên cứu tổng quan về phong cách và nghệ thuật biểu diễn: Công trình “Lịch sử nghệ thuật biểu diễn Piano” của A. Alekseev (А. Алексеев, 1972, tái bản 1980, 1982, 1988) phân tích chân dung nghệ sĩ, đặc điểm âm nhạc và phương pháp xử lý tác phẩm của Beethoven; Tuyển tập “Biểu diễn các tác phẩm viết cho Piano của Beethoven như thế nào?” do A. Zasimova chủ biên (2007) tổng hợp các bài nghiên cứu về sắc thái, nghệ thuật sử dụng pedal và nguyên tắc xếp ngón tay; Cuốn “The Pianist’s Guide to Pedalling” của Joseph Banowetz (1992) phân tích lịch sử cấu tạo pedal và dành hai chương chuyên sâu về kỹ thuật pedal trong tác phẩm của Beethoven; Hai công trình của William S. Newman gồm “Performance Practices in Beethoven’s Piano Sonatas” (1971) và “Beethoven on Beethoven. Playing His Piano Music His Way” (1988) tổng kết quá trình 17 năm khảo sát các vấn đề lựa chọn bản nhạc, nhạc cụ thời kỳ cổ điển, tốc độ, sắc thái và ký hiệu biểu diễn.
- Nhóm công trình về bản nhạc, phân tích hình thức và hiệu đính: Các ấn bản nguyên bản Urtext của Bella Walner & Hansen, Ratz & Schenker, Wiener Urtext; các bản biên tập và chú giải biểu diễn của Carl Czerny, Ignace Moscheles, Frank Kullak, Hans von Bülow, Alexander Borisovich Goldenweiser, Claudio Arrau, Artur Schnabel (phân loại ghi chú thành năm nhóm: cao độ/dấu nhấn, tốc độ, sắc thái, kỹ thuật phát âm tiếng đàn và bản nhạc nói chung); ấn phẩm “Analysis of form in Beethoven’s Sonatas” của Novello & Company Limited phân tích cấu trúc và điệu tính từng chủ đề trong 32 Sonata.
- Nhóm nghiên cứu về tiểu sử và sự nghiệp biểu diễn: Các nghiên cứu của Anton Schindler, Alexander Wheelock Thayer, Skowroneck, William Kinderman; cuốn “Ludwig van Beethoven” của A. Alshvang (Lan Hương dịch); cuốn “The Great Pianists: From Mozart to the Present” của Harold C. Schonberg (1987) khảo sát kỹ thuật chơi đàn và quan điểm sư phạm của Beethoven qua tài liệu đương thời.
Nhóm công trình nghiên cứu nghệ thuật Piano tại Việt Nam:
- Luận án “Nghệ thuật Piano Việt Nam” của GS.TS.NGND Trần Thu Hà (1997) là công trình đầu tiên nghiên cứu lịch sử du nhập đàn piano, phương pháp sư phạm qua các giai đoạn, ảnh hưởng của trường phái Nga - Xô Viết và hệ thống hóa hơn 200 tác phẩm piano Việt Nam.
- Luận án “Sonata và Concerto cho Piano của các nhạc sĩ Việt Nam: Sự kết hợp giữa đặc điểm dân tộc và truyền thống của âm nhạc phương Tây” của PGS. Tạ Quang Đông (2003) so sánh đặc điểm cấu trúc, hòa âm của các tác phẩm giai đoạn 1956-2002.
- Luận án “Lịch sử văn hóa âm nhạc Việt Nam: Mối tương quan giữa những hình thức âm nhạc dân gian và âm nhạc chuyên nghiệp” của PGS. Nguyễn Huy Phương (2003) nghiên cứu quá trình tiếp nhận văn hóa âm nhạc chuyên nghiệp phương Tây.
- Luận án “Sự phát triển của nghệ thuật Piano Việt Nam” và cuốn sách chuyên khảo “Một số vấn đề cốt lõi trong đào tạo Piano chuyên nghiệp ở Việt Nam” của PGS. Nguyễn Minh Anh khảo cứu về kỹ thuật thả lỏng, cấu trúc câu nhạc, nghệ thuật sử dụng pedal và các lỗi sai thường gặp của HSSV Việt Nam.
- Các luận án tiến sĩ chuyên ngành biểu diễn và sư phạm âm nhạc khác: TS. Đào Trọng Tuyên (nghiên cứu Etude của Debussy), TS. Đặng Ngọc Giang Quân (chất liệu âm nhạc Việt Nam và châu Âu), TS. Trần Nguyệt Linh (Concerto cho tay trái của Ravel), TS. Nguyễn Hoàng Phương (nghệ thuật đệm và hòa tấu thính phòng), TS. Hà Mai Hương (vai trò của piano trong đào tạo âm nhạc), TS. Triệu Tú My (ảnh hưởng của âm nhạc Chopin); Bộ giáo trình “Phân tích tác phẩm âm nhạc” của PGS. Nguyễn Thị Nhung phân tích hình thức Biến tấu, Sonata và Concerto của Beethoven.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Các tài liệu nước ngoài chưa kết nối cơ sở lý thuyết về phong cách của Beethoven với thực tiễn giảng dạy người học Việt Nam. Trong khi đó, các công trình trong nước chưa có đề tài nào đi sâu vào toàn bộ hệ thống sáng tác cho Piano của Beethoven dưới góc độ biểu diễn và sư phạm học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo chuyên nghiệp trong nước.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên hệ thống khái niệm chuyên ngành và các quan điểm học thuật đã được xác lập:
- Lý thuyết Factura: Tiếp thu thành tựu lý luận âm nhạc Nga - Xô Viết, định nghĩa factura là cấu trúc, cấu tạo của các yếu tố âm nhạc và sự tổng hợp các yếu tố được kết hợp theo ý đồ tác giả trong một tác phẩm, bao gồm giai điệu, phần đệm, bè bass, các bè giữa và bè giai điệu đi liền bậc (counter melody).
- Lý thuyết Mạch đập tiết tấu: Kế thừa quan điểm của Alexander Borisovich Goldenweiser dựa trên nguyên tắc duy vật biện chứng về tính thống nhất của các mặt đối lập: mỗi ý nhạc có một tiết tấu riêng, nhưng toàn bộ nội dung tác phẩm được kết nối bởi một mạch đập chung xuyên suốt.
- Khái niệm "Đàn Piano cất tiếng hát": Phong cách chơi legato của Beethoven nhằm kết hợp âm sắc vang lên như giọng hát của nhạc cụ với lối xử lý âm thanh mang tính hát (cantabile).
- Âm hình đệm nốt bass Alberti: Cấu trúc đệm rải hợp âm theo trật tự: nốt thấp nhất - nốt cao nhất - nốt ở giữa - nốt cao nhất, bắt nguồn từ nhạc sĩ Domenico Alberti.
- Kỹ thuật Pedal ngón tay: Kỹ thuật giữ phím đàn bằng ngón tay trong khi không dậm hoặc thay đổi liên tục pedal phải để tạo ảo giác âm thanh ngân dài legato.
- Nghệ thuật xếp ngón tay: Khái niệm do Carl Philipp Emanuel Bach khởi xướng và được Beethoven, Hummel, Czerny phát triển, nhằm xác lập các tổ hợp ngón tay tương ứng chuẩn xác với từng mô hình nốt nhạc.
- Sắc thái (dynamic): Thuật ngữ trong luận án được xác định theo nghĩa hẹp, chỉ về âm lượng và cường độ âm thanh từ ppp đến fff.
- Vòng kết bằng sắc thái: Thủ pháp tạo hiệu ứng âm thanh ở phần Coda chương III trong các Concerto của Beethoven, kết hợp sắc thái nhỏ dần (diminuendo) với tốc độ chậm dần rồi bất ngờ bùng nổ sang sắc thái to dần (crescendo) ở tốc độ nhanh.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai đồng bộ:
- Phương pháp luận duy vật lịch sử và duy vật biện chứng nhằm bảo đảm tính khách quan và hệ thống.
- Phương pháp định tính và phân tích văn bản: Phân tích các bản nhạc nguyên bản và bản hiệu đính, khảo sát cấu trúc, hòa âm, phức điệu, ký hiệu biểu diễn; phân tích lịch sử để đặt tác phẩm vào bối cảnh thời đại Cổ điển.
- Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn, trao đổi học thuật và lấy ý kiến từ các nghệ sĩ, nhà giáo giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực đào tạo Piano chuyên nghiệp tại Việt Nam.
- Phương pháp thống kê: Thu thập, tổng hợp số liệu về số lượng ký hiệu pedal, cấu trúc chương trình đào tạo, tỷ lệ lựa chọn tác phẩm của Beethoven trong các kỳ thi tốt nghiệp và tại các cuộc thi âm nhạc (Bảng B, C).
- Phương pháp quan sát và thực nghiệm sư phạm: Tiến hành giảng dạy thực nghiệm trên đối tượng HSSV tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam để đánh giá tính khả thi của các giải pháp.
Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu:
- Nguồn bản nhạc: Các ấn bản Urtext (G. Henle Verlag, Wiener Urtext, Ratz & Schenker) và các bản hiệu đính kinh điển (Carl Czerny, Hans von Bülow, Alexander Goldenweiser, Artur Schnabel, Claudio Arrau).
- Nguồn dữ liệu đào tạo: Chương trình đào tạo môn Piano chuyên ngành bậc Trung học dài hạn, Đại học và Cao học tại Khoa Piano - Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam; hồ sơ thi tốt nghiệp và kết quả các kỳ thi âm nhạc quốc gia, quốc tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: L. Beethoven – những đóng góp đối với nghệ thuật Piano cổ điển
Chương 1 khái quát toàn bộ sự nghiệp sáng tác, biểu diễn và sư phạm của Beethoven, đồng thời phân tích các đặc trưng âm nhạc trong các sáng tác cho Piano:
- Khái quát sáng tác cho Piano: Trong 45 năm hoạt động nghệ thuật (1782-1826), Beethoven sáng tác khoảng 770 tác phẩm, trong đó hơn 330 tác phẩm viết cho Piano (chiếm gần một nửa di sản sáng tác). Tác phẩm đầu tay của ông là Biến tấu trên chủ đề Hành khúc Dressler (WoO 63, năm 1782), tác phẩm mang số hiệu Op. 1 là Ba Tam tấu cho Piano, Violin và Cello (1793/1794), và tác phẩm cuối cùng viết cho Piano là Op. 134 Gross Fuga (chuyển soạn từ Tứ tấu dây Op. 133 vào năm 1826). Quy mô các tác phẩm có sự phân hóa lớn: bản Bagatelle Op. 119 số 10 chỉ kéo dài 18 giây, trong khi Sonata số 29 (Op. 106) dài khoảng 50 phút và 33 Biến tấu Diabelli (Op. 120) dài khoảng 55 phút.
- Đặc điểm âm nhạc tiêu biểu: Luận án phân tích bốn đặc điểm chính:
- Chất kịch tính, trữ tình, tương phản và vấn đề sắc thái: Tính kịch tính anh hùng thể hiện qua ý chí vượt lên số phận (Sonata số 8 Op. 13, số 23 Op. 57; Concerto số 3 Op. 37). Chất trữ tình lãng mạn bộc lộ sâu sắc ở các chương chậm Adagio, Largo (chương II Sonata số 3 Op. 2, số 8 Op. 13; chương I Sonata số 14 Op. 27; chương II Concerto số 5 Op. 73). Tính tương phản thể hiện qua các cuộc đối thoại âm vực (chương II Sonata số 3 nhịp 16-17) hoặc giữa Piano và dàn nhạc (chương II Concerto số 4 Op. 58). Về sắc thái, Beethoven mở rộng thang âm lượng từ ppp đến fff, sử dụng các ký hiệu chi tiết (mezza voce, sotto voce, poco a poco crescendo, rinforzando) và tạo xung lực đột ngột bằng các dấu sf, fp liên tiếp (chương I Sonata số 1 nhịp 5-8, Sonata số 5 nhịp 1-8).
- Tiết tấu và mạch đập tiết tấu: Sử dụng âm hình móc giật kết hợp dấu lặng tạo áp lực kịch tính (Sonata số 5, số 8); tiết tấu chấm dôi thể hiện tính chất anh hùng (Sonata số 21 Op. 53, số 29 Op. 106); tiết tấu chùm ba và các phân đoạn phức tạp lên tới 64 nốt trong một phách (chương II Concerto số 3 nhịp 63; Biến khúc 31 Op. 120). Mạch đập tiết tấu được duy trì thống nhất xuyên suốt các chương: ở chương I Sonata số 8, đơn vị móc đơn của phần Grave nhịp C tương đương đơn vị nốt trắng của phần Allegro nhịp C/, đồng thời mạch đập này kết nối sang chương II nhịp 2/4 và chương III nhịp C/.
- Tính giao hưởng trong tư duy sáng tác: Đưa mô hình 4 chương của giao hưởng vào thể loại Sonata (Sonata số 1, 2, 3, 4, 12, 29); tạo hiệu ứng âm sắc tương đương dàn nhạc giao hưởng qua việc chỉ dẫn sắc thái to dần rồi nhỏ dần ngay trên một nốt nhạc (Sonata số 1 chương I nhịp 15, 17; Sonata số 26 chương I nhịp 252); xây dựng factura mô phỏng biên chế giao hưởng (chủ đề 2 chương I Sonata số 11 nhịp 32-34 dùng quãng 3 gợi nhớ kèn Clarinet trong Giao hưởng số 2); Anton Rubinstein đã định danh Sonata số 29 là "Giao hưởng số 9 cho Piano" và Biến tấu Diabelli Op. 120 là "Giao hưởng số 9 của Biến tấu".
- Ngôn ngữ phức điệu: Đan xen kỹ thuật phức điệu vào hình thức chủ điệu, sử dụng canon mô tiến quãng hai đi lên (Sonata số 29 chương I nhịp 149-153), đưa hai khúc fuga lớn vào chương kết Sonata số 31 Op. 110 (chủ đề fuga thứ hai là dạng phản gương của chủ đề fuga thứ nhất), sử dụng fuga trong Biến tấu Op. 120 (biến khúc 24, 32), thủ pháp phản gương trong Biến tấu WoO 80 (biến khúc III), và xây dựng Cadenza mang phong cách biến tấu phức điệu Baroque trong Concerto số 2 Op. 19.
- Đặc điểm pedal: Luận án dẫn số liệu thống kê của W. Newman: trong gần 800 chỉ dẫn pedal có nguồn gốc xác thực của Beethoven, 98% là pedal phải và 2% là pedal trái. Chỉ dẫn pedal phải xuất hiện lần đầu ở Concerto số 1 Op. 19, Sonata Violin số 5 Op. 24 và Sonata Piano số 12 Op. 26; chỉ dẫn pedal trái xuất hiện lần đầu ở chương II Concerto số 4 Op. 58. Các chức năng của pedal phải gồm: ngân nốt bass (Sonata số 21 chương III nhịp 253-257), nâng cao tính legato (Concerto số 4 chương II nhịp 47-50), tạo âm thanh mới như tremolo (Sonata số 12 chương II nhịp 31-32) hoặc tạo âm vang dồn dập (Sonata số 29 chương I nhịp 402-405, Sonata số 26 chương III nhịp 37-40), gia tăng độ tương phản sắc thái (Sonata số 14 chương III nhịp 2-4), kết nối các chương nhạc không ngắt quãng (Sonata số 30 chương I sang chương II; Sonata số 13 chương I sang chương II attacca subito), dậm pedal không nhấc ở cuối tác phẩm để âm thanh tắt dần (Sonata số 30 chương III nhịp 103), ngân dài qua nhiều hòa thanh khác nhau (Sonata số 21 chương III nhịp 1-8; đoạn recitative Sonata số 17 chương I nhịp 153-158; Sonata số 14 chương I), và bao trùm cấu trúc chủ đề (Concerto số 3 chương II nhịp 1-3). Pedal trái được dùng để thay đổi âm sắc và mô tả tính chất âm nhạc (Sonata số 29 chương III nhịp 1-6 kết hợp mezza voce). Kỹ thuật pedal ngón tay được sử dụng để duy trì âm thanh legato mà không làm nhòe hòa thanh.
- Đặc trưng thể loại Sonata và Concerto: Khảo sát 32 bản Sonata độc tấu với sự đổi mới cấu trúc chương, mở rộng âm vực lên bốn đến năm quãng tám (Sonata số 7 chương I nhịp 103), cải biến âm hình Alberti xuống âm trầm và mở rộng thành quãng mười (Sonata số 27 chương I nhịp 55-56). Đối với 5 bản Concerto cho Piano và dàn nhạc, luận án tổng hợp các đặc điểm so sánh trong Bảng 1:
| Tên gọi | Điểm chung với Concerto Cổ điển Viên | Điểm khác biệt của Beethoven |
|---|---|---|
| Chương I | Hình thức Sonata với hai phần trình bày: - Phần trình bày thứ nhất thường do dàn nhạc chơi. - Phần trình bày lần thứ hai nhắc lại phần thứ nhất nhưng có sự tham gia của nghệ sĩ độc tấu. - Phần Phát triển được đan xen giữa nghệ sĩ độc tấu với dàn nhạc. - Cuối của mỗi phần trình bày, Phát triển và ngay sau Cadenza là sự bùng nổ của dàn nhạc. - Trước phần tái hiện hoặc trước Coda, dàn nhạc tạm ngưng để nghệ sĩ độc tấu chơi Cadenza. |
Trong hai bản Concerto số 4 và số 5, phần trình bày thứ nhất do bè Piano chơi: Mở đầu bằng một Cadenza lớn của bè Piano. |
| Chương II | Chậm và trữ tình. | Bên cạnh những Concerto có chương II chậm và trữ tình, ở Concerto số 4, bè của dàn dây đối thoại với bè độc tấu của Piano tạo nên sự tương phản kịch tính. |
| Chương III | Hình thức Rondo hoặc Rondo Sonata: - Phần lặp lại các chủ đề chính của Piano được vạch rõ bởi các phần của hình thức Rondo. - Trước Coda có Cadenza của nghệ sĩ độc tấu. |
Vòng kết bằng sắc thái: Sắc thái tắt dần chuyển động trước khi kết thúc hoàn toàn rồi bắt sang crescendo kết hợp với tốc độ nhanh (coda của các chương III trong các Concerto hay chương I của Concerto số 3). |
- Hoạt động biểu diễn, sư phạm và các cuộc thi: Trình bày phong cách biểu diễn điêu luyện của Beethoven, phương pháp truyền dạy học trò tiêu biểu như Carl Czerny, và sự hiện diện của các tác phẩm Beethoven tại các cuộc thi âm nhạc quốc tế lớn.
Chương 2: Vai trò các tác phẩm viết cho Piano của Beethoven trong đào tạo Piano chuyên nghiệp tại Việt Nam
Chương 2 tập trung khảo sát thực tiễn giảng dạy tác phẩm Beethoven tại các cơ sở đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp trong nước:
- Khái quát cơ sở đào tạo và giảng viên: Trình bày lịch sử hình thành và cơ cấu tổ chức của ba trung tâm đào tạo lớn: Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, Nhạc viện TP. Hồ Chí Minh và Học viện Âm nhạc Huế. Luận án thống kê số lượng giảng viên và HSSV tại các cơ sở (Biểu đồ 1), đồng thời ghi nhận những đóng góp của các thế hệ nhà giáo, tiêu biểu là GS.TS.NGND Trần Thu Hà.
- Vị trí của tác phẩm Beethoven trong chương trình học:
- Được đưa vào giảng dạy bắt buộc từ hệ Trung học dài hạn (Bảng 2) đến bậc Đại học và Cao học (Bảng 3).
- So sánh độ khó: Luận án lập bảng đối chiếu độ khó của 32 bản Sonata (Bảng 4) và 05 bản Concerto (Bảng 5) trong chương trình đào tạo của Khoa Piano - HVÂNQGVN với hệ thống đánh giá phân cấp độ khó của nhà xuất bản âm nhạc G. Henle Verlag (Đức).
- Khảo sát thực tế tốt nghiệp và thi đấu: Luận án tổng kết tỷ lệ lựa chọn Sonata, Biến tấu và Concerto của Beethoven so với các tác giả khác trong chương trình tốt nghiệp của HSSV và học viên Cao học (Bảng 6). Đồng thời, thống kê danh mục các bản Sonata của Beethoven được thí sinh Bảng B và Bảng C lựa chọn (Bảng 7), cùng tỷ lệ lựa chọn của thí sinh quốc tế và thí sinh Việt Nam qua các vòng thi (Biểu đồ 2, 3, 4, 5).
- Tác dụng của tác phẩm đối với HSSV Việt Nam:
- Rèn luyện kỹ thuật cơ bản và kinh điển: Rèn lực ngón, độ độc lập của ngón tay, kỹ thuật chạy gam, rải arpeggio, quãng tám (octave), hợp âm và kỹ thuật điều khiển bàn đạp.
- Phát huy ưu điểm và khắc phục nhược điểm: Phát huy khả năng cảm thụ tính chất trữ tình, sự kiên trì luyện tập; khắc phục các hạn chế về thể lực, lực tay yếu, khó khăn khi xử lý sắc thái lớn (ff, fff), thiếu ổn định về mạch đập tiết tấu và tư duy cấu trúc tác phẩm quy mô lớn.
- Hỗ trợ sinh viên sau khi tốt nghiệp trong việc xây dựng sự nghiệp biểu diễn độc tấu, hòa tấu hoặc giảng dạy chuyên nghiệp.
- Những hạn chế còn tồn tại: HSSV thường có xu hướng đánh vội tốc độ, mất kiểm soát nhịp điệu, chưa thực hiện đúng các ký hiệu sắc thái chi tiết, lạm dụng pedal phải làm đục âm thanh, thiếu sự tìm hiểu về bản thảo nguyên bản Urtext và bối cảnh lịch sử tác phẩm.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giảng dạy
Chương 3 xây dựng các giải pháp sư phạm ứng dụng cụ thể nhằm nâng cao chất lượng thể hiện tác phẩm Beethoven:
- Thực hiện đầy đủ và chính xác các chỉ dẫn biểu diễn:
- Về sắc thái (dynamic): Yêu cầu người học thực hiện đúng dải sắc thái từ ppp đến fff, tuân thủ các tương phản đột ngột giữa p và f, phân biệt rõ các ký hiệu dấu nhấn (sf, fz, fp, rf, rinforzando) theo đúng văn bản.
- Về tốc độ (Tempo): Rèn luyện khả năng cảm nhận và giữ vững mạch đập tiết tấu nội tại xuyên suốt toàn bộ tác phẩm, kiểm soát việc chuyển đổi nhịp điệu và giãn nhịp.
- Về kỹ thuật phát âm tiếng đàn (Articulation): Luận án lập bảng thống kê và phân loại các dấu luyến trong tác phẩm của Beethoven (Bảng 8) và bảng chuẩn hóa các ký hiệu kỹ thuật phát âm tiếng đàn gồm staccato, tenuto, mezzo staccato, leggieramente (Bảng 9).
- Các phương pháp bổ trợ tiếp cận phong cách:
- Nghiên cứu tổng quan bối cảnh lịch sử, hoàn cảnh sáng tác và tư tưởng triết học thời đại của từng tác phẩm.
- Phương pháp so sánh đặc trưng phong cách: Đối chiếu ngôn ngữ âm nhạc của Beethoven với trường phái Cổ điển Viên (Haydn, Mozart) và thời kỳ Lãng mạn kế tiếp.
- Phương pháp nghe và cảm nhận: Hướng dẫn người học nghe các bản thu âm tiêu chuẩn của các nghệ sĩ piano quốc tế uy tín để định hình thẩm mỹ âm thanh.
- Lựa chọn bản nhạc phù hợp: Sử dụng các ấn bản Urtext (Henle, Wiener Urtext) để bảo đảm tính chuẩn xác của văn bản nốt nhạc, kết hợp tham khảo các bản hiệu đính học thuật của Czerny, Bülow, Goldenweiser, Schnabel.
- Quan sát thực nghiệm sư phạm:
- Xác lập mục tiêu thực nghiệm: Nâng cao năng lực xử lý phong cách và kỹ thuật thể hiện các tác phẩm tiêu biểu của Beethoven cho HSSV Khoa Piano - HVÂNQGVN.
- Trình bày cách thức tổ chức, thông tin nhóm đối tượng thực nghiệm, giáo án giảng dạy thử nghiệm.
- Đánh giá tổng kết sau thực nghiệm: Ghi nhận sự chuyển biến tích cực của HSSV về khả năng kiểm soát âm sắc, độ chính xác của kỹ thuật phát âm và tính ổn định của mạch đập tiết tấu.
- Ứng dụng quan điểm đàn Piano "cất tiếng hát" và tư duy giao hưởng trong môn đệm Piano cho Thanh nhạc: Phân tích vai trò của giảng viên đệm đàn tại các khoa Thanh nhạc, vận dụng kỹ thuật legato cantabile và tư duy phân bè phức điệu/giao hưởng của Beethoven để nâng cao hiệu quả nâng đỡ giọng hát trong nghệ thuật đệm.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:
Về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa toàn diện các sáng tác viết cho Piano của Beethoven dưới góc độ biểu diễn và sư phạm học âm nhạc tại Việt Nam.
- Làm rõ cơ sở lý thuyết về tư duy giao hưởng, ngôn ngữ phức điệu, kỹ thuật pedal và mạch đập tiết tấu trong phong cách âm nhạc của Beethoven.
Về mặt thực tiễn:
- Khảo sát và đánh giá thực trạng giảng dạy các tác phẩm Piano của Beethoven trong toàn bộ hệ thống đào tạo chuyên nghiệp tại Việt Nam, lấy Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam làm điểm nghiên cứu mẫu.
- Đối chiếu, so sánh danh mục Sonata và Concerto trong chương trình giảng dạy của Việt Nam với bảng phân loại độ khó chuẩn quốc tế của nhà xuất bản G. Henle Verlag, chứng minh tính phân bậc khoa học của giáo trình trong nước.
- Xác định mối quan hệ khoa học biện chứng giữa các tác phẩm của Beethoven với việc rèn luyện kỹ thuật kinh điển, phát huy thế mạnh và khắc phục các nhược điểm cụ thể về thể lực, nhịp điệu và xử lý sắc thái của HSSV Việt Nam.
- Đề xuất hệ thống giải pháp sư phạm hoàn chỉnh: từ việc tuân thủ chỉ dẫn biểu diễn (sắc thái, tốc độ, articulation), lựa chọn bản in Urtext, áp dụng phương pháp so sánh phong cách, tiến hành thực nghiệm sư phạm, cho đến việc mở rộng ứng dụng kỹ thuật cantabile và tư duy giao hưởng sang lĩnh vực đệm đàn cho thanh nhạc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án dựa trên nội dung văn bản:
- Phạm vi địa bàn khảo sát thực nghiệm tập trung chủ yếu tại Khoa Piano - Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, chưa mở rộng điều tra định lượng toàn diện tại Nhạc viện TP. Hồ Chí Minh và Học viện Âm nhạc Huế.
- Luận án tập trung giải quyết ba thể loại cốt lõi (32 Sonata độc tấu, 05 Concerto, hơn 20 Biến tấu), chưa khảo cứu toàn bộ các tiểu phẩm nhỏ (như các tập Bagatelles) và mảng hòa tấu thính phòng có sự tham gia của đàn Piano.
- Việc xử lý các chỉ dẫn pedal ngân dài qua nhiều hòa thanh khác nhau trên cây đàn Piano hiện đại chỉ dừng ở việc tổng hợp quan điểm của các nhà hiệu đính lớn (như Donald Tovey, Artur Schnabel, Alexander Goldenweiser, Joseph Banowetz tại Phụ lục 3), do vấn đề này phụ thuộc vào quan điểm thẩm mỹ cá nhân của người biểu diễn.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng khảo sát so sánh thực trạng và chương trình giảng dạy tác phẩm Piano của Beethoven giữa cả ba cơ sở đào tạo âm nhạc lớn trên toàn quốc.
- Nghiên cứu sâu hơn về mảng tác phẩm thính phòng có đàn Piano và các tiểu phẩm viết cho Piano của Beethoven trong đào tạo chuyên nghiệp cũng như không chuyên.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành cho các nhóm đối tượng:
- Giảng viên chuyên ngành Piano: Sử dụng để định hướng lựa chọn tác phẩm theo bảng độ khó chuẩn Henle, hướng dẫn học sinh xử lý các chỉ dẫn biểu diễn về sắc thái, tốc độ, dấu luyến và kỹ thuật phát âm tiếng đàn theo các bảng phân loại của luận án.
- Nghiên cứu sinh, học viên Cao học và sinh viên Piano: Nguồn dữ liệu tra cứu về phân tích phong cách, tư duy giao hưởng hóa, phương pháp đối chiếu giữa bản in Urtext và các bản hiệu đính học thuật.
- Giảng viên và nghệ sĩ đệm Piano cho Thanh nhạc: Tham khảo phương pháp vận dụng quan điểm đàn Piano "cất tiếng hát" và tư duy giao hưởng để xử lý phần đệm thanh nhạc chuyên nghiệp.
- Các nhà quản lý đào tạo âm nhạc: Căn cứ thực tiễn để rà soát, cân đối và hoàn thiện chương trình đào tạo môn Piano chuyên ngành ở các bậc học.
Câu hỏi thường gặp
1. Số lượng và quy mô các tác phẩm viết cho Piano của Beethoven được luận án thống kê như thế nào?
Luận án thống kê trong 45 năm hoạt động nghệ thuật với khoảng 770 tác phẩm, Beethoven có hơn 330 tác phẩm viết cho Piano (chiếm gần một nửa tổng số sáng tác), gồm các tác phẩm độc tấu, độc tấu cùng dàn nhạc, thính phòng và đệm thanh nhạc. Tác phẩm đầu tay là Biến tấu WoO 63 (năm 1782), tác phẩm Op. 1 là Ba Tam tấu (1793/1794), và tác phẩm cuối cùng viết cho piano là Op. 134 Gross Fuga (1826). Quy mô biến thiên từ bản Bagatelle Op. 119 số 10 chỉ dài 18 giây đến Sonata số 29 Op. 106 dài khoảng 50 phút và Biến tấu Diabelli Op. 120 dài khoảng 55 phút.
2. Điểm khác biệt cơ bản giữa Concerto cho Piano của Beethoven và Concerto Cổ điển Viên là gì?
Theo Bảng 1 của luận án, ở chương I của Concerto số 4 và số 5, phần trình bày thứ nhất do bè Piano chơi và mở đầu bằng một Cadenza lớn (thay vì dàn nhạc chơi trước như truyền thống). Ở chương II của Concerto số 4, bè dàn dây đối thoại kịch tính với bè độc tấu Piano. Ở chương III, Beethoven áp dụng thủ pháp "Vòng kết bằng sắc thái": sắc thái tắt dần ở tốc độ chậm (adagio, pp) rồi bất ngờ bùng nổ sang sắc thái to dần (crescendo) ở tốc độ nhanh (presto).
3. Khái niệm "mạch đập tiết tấu" được luận án tiếp thu từ trường phái nào và có vai trò gì?
Khái niệm "mạch đập tiết tấu" được tiếp thu từ lý luận âm nhạc Nga - Xô Viết, cụ thể qua quan điểm của Alexander Borisovich Goldenweiser dựa trên nguyên lý duy vật biện chứng về tính thống nhất của các mặt đối lập: mỗi ý nhạc có tiết tấu riêng nhưng toàn bộ tác phẩm được liên kết bởi một mạch đập chung. Mạch đập này giúp duy trì sự gắn kết hữu cơ xuyên suốt giữa các chủ đề và giữa các chương của tác phẩm, kể cả qua các đoạn co dãn tốc độ hay dấu lặng.
4. Nghiên cứu của W. Newman được trích dẫn đưa ra số liệu nào về chỉ dẫn pedal của Beethoven?
Theo công trình của W. Newman được dẫn trong luận án, trong gần 800 chỉ dẫn pedal có nguồn gốc xác thực của Beethoven, 98% dành cho pedal phải và 2% dành cho pedal trái. Chỉ dẫn pedal phải xuất hiện lần đầu trong bản in Concerto số 1 Op. 19, Sonata Violin số 5 Op. 24 và Sonata Piano số 12 Op. 26; chỉ dẫn pedal trái xuất hiện lần đầu trong chương II Concerto số 4 Op. 58.
5. Vì sao luận án so sánh chương trình đào tạo tại Việt Nam với thang đánh giá của G. Henle Verlag?
Việc đối chiếu độ khó của 32 bản Sonata (Bảng 4) và 05 bản Concerto (Bảng 5) với hệ thống phân cấp của nhà xuất bản G. Henle Verlag nhằm kiểm chứng tính khoa học, chuẩn xác và tương thích quốc tế của khung phân bổ tác phẩm tại Khoa Piano - Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, làm cơ sở định hướng lộ trình học tập phù hợp với từng trình độ đào tạo.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Trịnh Minh Trang là công trình khoa học chuyên sâu đầu tiên tại Việt Nam khảo cứu toàn diện vị trí và giá trị của các tác phẩm Piano của Ludwig van Beethoven trong đào tạo chuyên nghiệp. Thông qua việc phân tích đặc điểm âm nhạc, cấu trúc thể loại, kỹ thuật pedal và articulation, công trình đã làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa tác phẩm của Beethoven với việc rèn luyện kỹ thuật và nâng cao thẩm mỹ âm nhạc cho HSSV Việt Nam. Hệ thống số liệu thống kê, bảng phân loại đối chiếu với chuẩn quốc tế và các giải pháp sư phạm thực nghiệm được đề xuất trong luận án mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho công tác giảng dạy, biểu diễn và quản lý đào tạo Piano chuyên nghiệp tại Việt Nam.