Đặt vấn đề Bệnh tiểu đường là sự rối loạn chuyển hóa carbohydrate do hormon insulin của tuyến tụy bị thiếu hay giảm tác động trong cơ thể, biểu hiện của bệnh là nồng độ đường trong máu cao vượt quá ngưỡng. Nếu lượng đường trong máu luôn ở mức cao sẽ làm gia tăng các nguy cơ bệnh lý tim mạch, đồng thời gây tổn thương ở nhiều cơ quan bộ phận khác như thần kinh, mắt, thận và nhiều bệnh lý nghiêm trọng khác. Do đó việc làm giảm lượng glucose đang ở mức cao trong máu của bệnh nhân tiểu đường là một mục tiêu quan trọng để làm giảm nguy cơ biến chứng sức khỏe lâu dài của bệnh tiểu đường. Hiện nay, các loại thuốc tổng hợp như: Acarbose, miglitol, voglibose, … có khả năng ức chế enzyme thủy phân carbohydrate như enzyme α-amylase và enzyme α-glucosidase.
Tuy nhiên, chúng có giá thành cao và gây ra nhiều tác dụng phụ và không làm giảm các biến chứng tiểu đường. Do đó, việc tìm ra các thuốc mới có hiệu quả cao, ít tác dụng phụ và giá thành hợp lý đang là vấn đề cấp thiết, thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam được coi là một trong những quốc gia đa dạng sinh học lớn và có nhiều dược liệu tiềm năng chưa được khai thác. Các báo cáo cho thấy trong các loài thuộc chi Wedelia có các tác nhân ức chế được hai loại enzyme α- amylase và α-glucosidase. Chi Wedelia là cây thuốc nổi tiếng có lịch sử sử dụng lâu đời trong y học cổ truyền và đã được nghiên cứu rộng rãi về hiệu quả của nó trong tác dụng hạ đường huyết (Kade, Barbosa et al.
Xuất phát từ những nhu cầu và mong muốn sử dụng thuốc an toàn cho người bệnh tiểu đường và có ít tác dụng phụ, chính vì vậy chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo sát tác dụng ức chế enzyme α-amylase và α- glucosidase của cây sài đất ba thuỳ Wedelia trilobata”. Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích - Tìm ra các hợp chất có trong cao chiết cây Sài đất ba thuỳ. Từ đó, sử dụng các hợp chất này để tiến hành nghiên cứu.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ mẫu thí nghiệm đến sự ức chế enzyme α-amylase và α-glucosidase. - So sánh hoạt tính ức chế của mẫu thí nghiệm với chất đối chứng dương là Acarbose 1. Yêu cầu - Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ các chất có trong cây Sài đất ba thuỳ đến sự ức chế enzyme α-amylase và α-glucosidase. - Đánh giá hoạt tính ức chế của các hợp chất tìm được.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. TỔNG QUAN VỀ CÂY WEDELIA TRILOBATA 2. Đặc điểm thực vật và phân bố 2. Tên gọi và vị trí phân loại - Tên khoa học: Wedelia trilobata (L.
- Tên đồng danh: Sphagneticola trilobata (L., Wedelia carnosa Wedelia paludosa DC (Hồng Gia Ân 2018). - Tên thông thường: Sài đất ba thuỳ, sài đất kiểng, sơn cúc ba thùy hoặc cúc xuyến chi (Hoang Thanh Chi, Nguyen Thi Lien Thuong et al. - Vị trí phân loại (Hồng Gia Ân 2018) Vị trí của loài Wedelia trilobata trong hệ thống phân loại thực vật như sau: Giới: Plante Ngành: Spermatophyta Phân ngành: Angiospermae Lớp: Dicotyledonae Bộ: Asterales Họ: Asteraceae Chi: Wedelia Loài: Wedelia trilobata (L. Dưới đây là hình ảnh về loài Wedelia trilobata (Hình 1.1) (Chi, Thuong et al.
Loài Wedelia trilobata 3 2. Đặc điểm thực vật Wedelia trilobata (L. (Viết tắt là: W. trilobata) là loài cây mọc bò lan, bò sát mặt đất.
Đặc điểm là mọc lan, mọc tới đâu ra rễ tới đó, từng khúc thân có thể biến hóa thành một cây độc lập khi chúng được ngắt ra khỏi thân chính. Sài đất còn được gọi là húng trám vì một số vùng địa phương ngắt sài đất ăn sống như ăn rau húng, nhưng khi vò nát cây ra lại có mùi hương của quả trám nên được gọi là húng trám. Một số vùng khác gọi là ngổ núi, vì trông như cây rau ngổ song có thể mọc bò trên vách núi. Dưới đây là các đặc điểm của cây W.
trilobata đã được các nhà khoa học tìm hiểu: (Hồng Gia Ân 2018),(Balekar, Nakpheng et al. Thân: Cây thảo sống lâu năm, dài khoảng 10 – 30cm, có thể mọc thẳng đứng cao đến 45 - 60cm, bò lan đến 1,8m. Cây thường mọc thành từng mảng, dày đặc che kín mặt đất. Thân bò, màu hơi đỏ hoặc xanh, tròn, rễ mọc tại các đốt, dài 10 - 30cm.
Phần mọc hướng lên có lông thô, cứng, rậm rạp, đôi khi nhẵn, không lông. Lá: đơn, mọc đối, dày, dài khoảng 4 - 9cm, rộng 2 - 5cm, có răng cưa ở 2 bên thùy lá, có lông cứng và thô ở cả hai mặt lá. Hình thuôn bầu dục, nhọn đầu. Hệ gân lá cong hình cung và lông chim.
Cụm hoa: hình đầu, mọc từ nách lá, mang hoa không đều ở vòng ngoài. Hoa: đơn, mọc ở nách lá, màu vàng tươi, nhiều cánh thành tầng, cuống hoa dài 3 - 10cm, tổng bao có dạng chuông hoặc bán cầu, đầu hoa thường có khoảng 8 - 13 hoa tia, cánh dài 6 - 15mm, đĩa tràng hoa dài 4 - 5mm. Ra hoa quanh năm. Quả: Quả bé có nốt sần.
Bộ nhị: Chỉ nhị dài 1mm. Bộ nhụy: Bầu nhụy dài 2mm, Đầu nhụy dài 5mm, noãn đơn. Bao phấn: dính với nhau dài khoảng 2mm, hạt phấn màu vàng cam Năm 2018, Hồng Gia Ân và cộng sự đã nghiên cứu khảo sát một số bộ phận của loài W.trilobata như hình 1. Một số bộ phận của loài Wedelia trilobata 1.
Thân bò lan trên mặt đất 2. Thân có nhiều lông che chở 3. Cụm hoa đầu. Hoa lưỡng tính.
Tổng bao lá bắc. Nguồn gốc và phân bố Wedelia trilobata là một loại cây bụi rụng lá có nguồn gốc từ Mexico, Trung Mỹ và khắp vùng Caribê, nơi nó được ghi nhận là một loài cỏ dại ở Trinidad, Puerto Rico, Cộng hòa Dominica, Jamaica, Panama và nhiệt đới Nam Mỹ. Nhập tịch ở Nam Phi, Florida, Louisiana, Hawaii, Puerto Rico và Quần đảo Virgin. Nó cũng có mặt ở nhiều vùng nhiệt đới trên thế giới, bao gồm Úc, quần đảo Thái Bình, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Ấn Độ, Papua New Guine.
Loài cây này phát triển mạnh mẽ trong các thung lũng, mương, đường bộ ẩm ướt, các vùng trồng trọt, rừng tự nhiên, vùng ven biển và các khu vực thành thị. (Balekar et al. 2014), (Meena et al. Bộ phận dùng Các bộ phận của cây W.trilobata được sử dụng trong y học cổ truyền ở Caribe và Trung Mỹ để chống lại bệnh viêm phế quản, cảm lạnh, đau bụng và đau bụng kinh.
Thậm chí người ta còn coi đây là một loại cây giúp tăng cường khả năng sinh sản. Trong y học dân gian, loài cây này được sử dụng để điều trị đau lưng, co cứng cơ, thấp khớp, vết thương cứng đầu, vết loét và sưng tấy, và các khớp đau nhức (Arvigo and Balick 1993). Người da đỏ Miskito ở miền đông Nicaragua sử dụng lá W.trilobata để điều trị các chứng rối loạn chức năng thận, cảm lạnh, vết thương do cá đuối đốt, rắn cắn, tẩy và vô kinh. Quả, lá và thân được sử dụng khi sinh con và điều trị vết cắn và đốt, sốt và nhiễm trùng (Duke 2002).
trilobata được sử dụng ở Hồng Kông để thay thế cho W. chinensis, một loại thuốc truyền thống của Trung Quốc được sử dụng để điều trị cảm lạnh thông thường, viêm gan, khó tiêu và nhiễm trùng (Huang, Jiang et al. Y học cổ truyền của Suriname sử dụng thân, lá và hoa của loài W.trilobata đun sôi trong nước để chữa bệnh viêm gan, khó tiêu do gan chậm tiêu, tiểu rát ngưng tiểu và các bệnh nhiễm trùng. Thân và lá tươi được đun sôi dùng để tắm cho những người bị đau lưng, co cứng cơ, thấp khớp, sưng tấy.
Ngoài ra còn được dùng để chữa các khớp sưng đau do viêm khớp. Lá và thân cây tươi giã nát, tán trên vải rồi đắp lên vùng đó, quấn chặt bằng vải đắp ấm Nam Mỹ. Loài Wedelia được sử dụng ở vùng hạ Thái Lan để chữa đau đầu và sốt (Meena, Rao et al. Tổng quan về thành phần hoá học của loài Wedelia trilobata Tinh dầu là hỗn hợp của nhiều cấu tử dễ bay hơi và là sản phẩm của quá trình chiết và chưng cất nguyên liệu.
Tinh dầu là sản phẩm cuối cùng của quá trình trao đổi chất và không được sử dụng trở lại trong hoạt động sống của cây. Mỗi loại tinh dầu lấy từ các nguồn nguyên liệu khác nhau thì có mùi vị khác nhau, phụ thuộc vào thành phần của các hợp chất chứa trong đó và là các sản phẩm có giá trị thường (Đàn and Khuyến 1999). 6 Tinh dầu thu được từ lá của loài W.trilobata được phân tích bằng sắc ký khí/sắc ký khí - khối phổ (GC/GC– MS). Các thành phần chính đã được chứng minh là α-phellandrene (28,84%), germacrene D (15,79%), D-limonene (14,22%), 1,5,5-trimethyl-6-methylene-cyclohexene (10,11%) và caryophyllene (9,08%).
Ngoài ra, một số thành phần dược phẩm như α-pinen, D-limonene, germacrene D và phytol cũng đã được phát hiện (Li, Liang et al.1 Thành phần hoá học của tinh dầu Wedelia trilobata STT Tên thành phần Tỷ lệ % 1 Hydrocacbon Sesquiterpenes (HS) 25,5-86,4% 2 Hydrocacbon Monoterpenes (HM) 22,9-72,3% 3 Sesquiterpenes oxy hóa (OS) 0,0-7,4% 4 Germacrene D 11,9-35,8% 5 α-phellandrene 1,4-28,5% 6 α-pinen 7,3-23,8% 7 E-caryophyllene 4,6-19,0% 8 Bicyclogermacrene 6,0- 17,0% 9 Limonene 1,8-15,1% 10 α-humulene 4,0-11,6% Bảng 2. cho thấy thành phần hoá học của các chất được tìm thấy trong tinh dầu của loài W. Mười thành phần dễ bay hơi đã được xác định từ tinh dầu của lá, thân và hoa của W. Hàm lượng của 7 monoterpen α-pinen, α-phellandrene và limonene tăng từ giữa mùa mưa cho đến giữa mùa khô tiếp theo (Balekar, Nakpheng et al.
Nghiên cứu của Prasana và cộng sự cho thấy sự hiện diện của sterol, flavonoid, các dẫn xuất của Benzen ở loài W. Hầu hết các thành phần của tinh dầu đều thuộc nhóm tecpen. Tinh dầu thu được từ lá cây Wedelia trilobata được phân tích bởi GC/MS. Trong đó cho thấy α-pinen (trên 30%), α- phellandrene (17,4%) và limonene (16,3%) là các thành phần chính (Prasanna, Reddy et al.
Các chất chuyển hóa thứ cấp chính từ thực vật này chủ yếu bao gồm tecpenoit, flavonoid và polyacetylenes cũng như steroid. Lá và thân chứa eudesmanolide lacton, luteolin và axit kaurenoic. Nó có sau các lớp khác nhau của phytoconstituents. Sesquiterpenoids, triterpenoid và diterpenoid: từ phần thân và hoa của W.
trilobata có sterol flavonoid là dẫn xuất benzen. (Balekar, Nakpheng et al. 2014),(Nguyen Thi Luyen, Pham Thanh Binh et al. Năm 2020, qua kiểm tra sơ bộ hoá thực vật Langhi và cộng sự đã cho thấy sự hiện diện của steroid và triterpenes trong chiết xuất ete dầu mỏ, alkaloids trong chiết xuất cloroform, flavonoid trong chiết xuất etyl axetat và carbohydrate, đường khử, tanin, glycoside trong dịch chiết metanol.
Chi tiết có trong bảng 2.2 dưới đây: (Langhi, Hon et al.