CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP IN SILICO Các phương pháp in silico là các phương pháp tiến hành các thí nghiệm bằng mô phỏng trên máy tính. Với sự phát triển của khoa học máy tính, các phương pháp in silico ngày càng trở nên thông dụng và trở thành một công cụ quan trọng trong nhiều nghiên cứu. Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng hai phương pháp in silico là phương pháp tính toán hóa lượng tử phiếm hàm mật độ và phương pháp mô phỏng docking phân tử. PHƯƠNG PHÁP PHIẾM HÀM MẬT ĐỘ Thuyết phiếm hàm mật độ (Density Functional Theory - DFT) [40], [41] xuất phát từ quan điểm cho rằng năng lượng của một hệ các electron có thể được biểu thị như một hàm của mật độ electron ( r ).
Thật vậy, năng lượng của hệ các electron E [( r )] là một phiếm hàm đơn trị của mật độ electron. Mô hình Thomas – Fermi Năm 1927, Thomas và Fermi chỉ ra sự tồn tại của một phiếm hàm năng lượng, và tìm ra một biểu thức năng lượng Thomas – Fermi cho nguyên tử dựa trên mật độ electron là: 3 (r ) 1 (r ) (r ) ETF[] = (32)2/35/3(r)dr-Zdr + dr1dr2 1 1 (1.1) 10 R−r 2 r1 − r2 Trong đó Z là điện tích của hạt nhân, R là vectơ toạ độ của hạt nhân, r là vectơ toạ độ electron. Phương trình này chỉ dùng cho nguyên tử (có một hạt nhân). Mô hình Thomas – Fermi quá đơn giản, không dùng được cho phân tử, độ chính xác khi dùng cho các nguyên tử cũng không cao, chỉ nghiệm đúng trong một số ít trường hợp (coi electron là các hạt độc lập).
Các định lý Hohenberg-Kohn Hohenberg và Kohn đã đưa ra hai định lý cơ bản để áp dụng thuyết DFT vào hóa học và chứng minh năm 1964. Định lý 1: Mật độ electron ( r ) xác định thế ngoài Vext( r ), hàm sóng ( r ) cũng như các tính chất khác của hệ ở trạng thái cơ bản. Định lý 2: Đối với một ma trận mật độ thử (r ) sao cho ma trận mật độ thử đó là không âm và (r ) d r = N thì ta có: E0 E [ (r ) ] (1.2) Trong đó E0 là năng lượng ở trạng thái cơ bản.2) tương tự nguyên lý biến phân với E = E [( r )]. E [ (r )] = 0 thì ( r ) xác định năng lượng của hệ ở trạng thái d Do đó, tại d (r ) cơ bản, điều này được áp dụng khi xây dựng các phương trình Kohn-Sham.
Các phương trình Kohn-Sham Về nguyên tắc, có tồn tại một phiếm hàm mô tả chính xác năng lượng của các hệ phân tử, tuy nhiên đến nay phiếm hàm đó vẫn chưa được tìm ra. Phương pháp Kohn-Sham cho phép chúng ta tìm ra phiếm hàm năng lượng thông qua hàm sóng của một hệ chuẩn không có tương tác electron. Xét hệ có N electron ghép đôi. Năng lượng của hệ theo Kohn-Sham ở trạng thái cơ bản được xác định theo biểu thức: 1 (r ) (R ) E[( r )] = T[( r )] + drdR + Exc (r ) + (r ) Vext ( r )d r (1.4) 2 1 i ( r ) là hàm không gian 1 electron, còn gọi là obitan Kohn-Sham.
Exc[( r )] là năng lượng tương quan trao đổi của hệ. ∫( r )Vext ( r ) d r biểu thị năng lượng hút giữa hạt nhân và electron. Số hạng còn lại biểu thị năng lượng tương tác Coulomb giữa 2 mật độ electron toàn phần ( r ), ( r ). 1 2 Phương trình Kohn-Sham: 2 2 M Z1e 2 (r2 )e 2 − 1 − + dr2 + VXC (r1 ) i (ri ) = i i (r1 ) (1.5) 2me I =1 4 0 r12 4 0 r12 Trong đó: i là năng lượng orbital Kohn-Sham E XC VXC là thế tương quan trao đổi: VXC = (1.
Nhưng dạng chính xác của EXC[] hiện tại chưa tìm ra. Khi có dạng của EXC[] thì (1.6) cũng được giải theo phương pháp trường tự hợp SCF thu được các orbital không gian 1 electron là i (r1 ). Từ các orbital Kohn-Sham có thể tính được ( r ) theo biểu thức: 2 N ( r ) = i (r ). i =1 Sự phát triển của lý thuyết DFT ngày nay là tập trung vào việc làm sao để có phiếm hàm EXC[] ngày càng mô tả tốt hơn các hệ phân tử.
Các phương pháp DFT khác nhau ở dạng của EXC[]. Các phiếm hàm đó thường được xây dựng dựa vào việc so sánh với kết quả thực nghiệm hoặc so sánh với kết quả tính toán theo lý thuyết ở mức cao. Thông thường năng lượng trao đổi – tương 12 quan EXC được tách thành hai phần riêng biệt, phần trao đổi Ex và phần tương quan EC. Các phiếm hàm tương quan trao đổi EXC được xây dựng dựa trên các sự gần đúng sau: Sự gần đúng mật độ tại chỗ (Local density approximation, LDA): phiếm hàm EXC chỉ phụ thuộc mật độ electron tại vị trí r.
Sự gần đúng mật độ spin tại chỗ (Local spin density approximation, LSDA): tương tự LDA nhưng có thêm hàm spin. Sự gần đúng gradient tổng quát (Generalized Gradient Approximation, GGA): phiếm hàm EXC ngoài sự phụ thuộc (r), còn phụ thuộc vào đạo hàm bậc nhất của nó. Một số phiếm hàm trao đổi - Hàm trao đổi được xây dựng bởi Slater áp dụng sự gần đúng LDA 1 Ex[] = - (r )3 dr 3 3 3 4 4 1 3 3 Thế tương ứng là: xLDA = − (r ) - Hàm trao đổi phụ thuộc vào mật độ spin địa phương áp dụng sự gần đúng LSDA xLSDA ( , ) = x ( ,0) + f ( )( x ( ,1) − x ( ,0)) Với f ( ) là hàm nội suy, f ( ) = (1 + ) −4 (1 − ) − 2 4 4 3 3 23 − 2 1 3 3 3 1 1 1 x ( ,1) = 2 C x 3 3 ; x ( ,0) = Cx 3 ; Cx = − 4 13 - Hàm trao đổi Beck’s 1988 (B88) áp dụng sự gần đúng GGA. z2 B 88 = − LDA 1 − 1 1 + 6z sinh (z ) −1 x x 2 3 Ax 1 1 3 3 3 Trong đó: z = 2 3 , A= , = 0,0042 4 4 3 - Hàm trao đổi Perdew-Wang (PW91) áp dụng sự gần đúng GGA.
PW 91 = LDA −1 ( 1 + sa1 sinh (sa2 )−1+ a3 + a4e 4 s −100 s 2 2 ) 1 + sa1 sinh (sa2 ) + a5 s x x Trong đó: s= , (24 ) 1 4 2 3 3 a1 = 0,19645; a2 = 7,7956; a3 = 0,2743; a4 = -0,1508; và a5 = 0,004. Một số phiếm hàm tương quan - Hàm tương quan Lee, Yang và Parr (LYP) áp dụng sự gần đúng GGA. − 2 5 1 1 2 − c 3 1 xLYP = −a 1 1 + b 3 F C 3 − 2t w + t w + e − 9 2 1 + d 3 Trong đó: a = 0,04918; b = 0,132; c = 0,2533; d =0,349 1 2 ( ) 2 3 tw = − 2 , CF = 3 2 3 8 10 - Hàm tương quan Perdew-Wang (PW91) áp dụng sự gần đúng GGA. VcPW 91 = cLDA + H , s, t 2 2 t 2 + At 4 Trong đó: H= 1n 1 + + Cc 0 Cc ( ) − Cc1 t 2e−100s 2 2 4 2 1 + At + A t 2 14 1 −1 6 − 2 c ( ) 2 LDA 3 A= e − 1 t= 2 4 7 6 s có giá trị tương tự như ở hàm trao đổi PW91 = 0,09; = 0,0667263212; Cc0 = 15,7559; Cc1 = 0,0035521 C2 + C3rs + C4 rs2 Cc() = C1 + 1 + C5 rs + C6 rs2 + C7 rs3 với C1 = 0,001667; C2 = 0,002568; C3 = 0,023266; C4 = 7,389 x 10-6; C5 = 8,723; C6 = 0,472 và C7 = 0,07389.
Hàm tương quan Vosko, Wilk và Nusair (VWN) áp dụng sự gần đúng LDA. A bx0 (x − x0 ) 2(b + 2 x0 ) −1 Q 2 cVWN = x 2b Q 1n + tan −1 − 1n + tan 2 X ( x ) Q 2 x − b X (x0 ) X (x ) Q 2 x + b Trong đó các hàm x, X và Q tương ứng là: 1 4 3 X (x ) = x 2 + bx + x ( ) 1 1 x=r s 2 , rs = , , Q = 4c − b 2 2 3 và các hằng số: A = 0,0621814; x0 = -0,409286; b = 13,0720; c= 42,7198 1. Một số phương pháp DFT thường dùng Các phương pháp DFT thuần khiết Mỗi một phương pháp DFT là sự kết hợp thích hợp giữa các dạng cụ thể của phiếm hàm trao đổi và phiếm hàm tương quan. - Phương pháp BLYP kết hợp phiếm hàm trao đổi B88 và phiếm hàm tương quan LYP.
15 - Phương pháp BP86 sử dụng phiếm hàm hiệu chỉnh B đối với năng lượng trao đổi LSDA và phiếm hàm tương quan là phiếm hàm hiệu chỉnh gradient cho phiếm hàm LSDA kí hiệu P86. Các phương pháp DFT hỗn hợp Các phiếm hàm hỗn hợp được tạo ra từ sự kết hợp một phần của năng lượng trao đổi HF với năng lượng trao đổi DFT thuần khiết. - Phiếm hàm Half-and-Half: năng lượng trao đổi HF góp một nửa và năng lượng trao đổi – tương quan LSDA góp một nửa vào phiếm hàm trao đổi – 1 tương quan: ExcH + H = ExHF + 2 2 ( 1 LSDA Ex + EcLSDA ) (1.7) - Phương pháp B3LYP chứa phiếm hàm hỗn hợp B3, trong đó phiếm hàm tương quan GGA là phiếm hàm LYP.