CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổn thương khứu giác 1. Định nghĩa Khứu giác là một trong năm giác quan cơ bản của con người và động vật, giác quan này đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của con người. Vai trò chính của hệ thống khứu giác là cung cấp những thông tin về các chất hóa học trong môi trường [1].
Khứu giác giúp phát hiện các mối nguy hiểm từ thức ăn, môi trường; giúp duy trì dinh dưỡng cho cơ thể một cách đầy đủ thông qua cảm giác thèm ăn; duy trì hành vi giữa các cá nhân, sức khỏe thần kinh [1–3]. Tổn thương khứu giác là tình trạng khứu giác bị tổn thương bởi nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra, từ đó dẫn đến các rối loạn, suy giảm chức năng khứu giác và thậm chí có thể gây mất khứu giác. Rối loạn chức năng khứu giác được chia làm 2 loại chính: rối loạn về cường độ và rối loạn khả năng nhận thức về mùi [1,3,10,11].1: Phân loại rối loạn chức năng khứu giác [10–13]. Tình trạng Mô tả Chức năng khứu giác giảm nhưng hiện tại Hyposmia tình trạng này vẫn có ích cho bệnh nhân trong cuộc sống hàng ngày Rối loạn về Chức năng khứu giác giảm rõ rệt và hiện tại Functional cường độ tình trạng này không có ích cho bệnh nhân Anosmia trong cuộc sống hàng ngày Hyperosmia Chức năng khứu giác tăng bất thường Anosmia Mất chức năng khứu giác Cảm nhận được mùi này khi có sự kích thích Parosmia của mùi khác 3 Cảm nhận được mùi nhưng không có kích Rối loạn khả Phantosmia thích mùi đó năng nhận Cảm nhận được mùi khó chịu nhưng không thức về mùi Cacosmia có sự hiện diện của chất kích thích mùi Tổn thương khứu giác hay rối loạn, suy giảm chức năng khứu giác có thể ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người bệnh [1,14].
Những người bị rối loạn chức năng khứu giác cho biết họ gặp khó khăn khi nấu nướng, giảm cảm giác thèm ăn, gặp khó khăn trong việc duy trì vệ sinh cá nhân, duy trì các mối quan hệ xã hội [14], ngoài ra những người này còn gặp phải những nguy cơ chấn thương (đặc biệt là những chấn thương liên quan đến hóa chất nguy hiểm, thức ăn ôi thiu) và suy dinh dưỡng [1]. Trong một nghiên cứu của Temmel và cộng sự trên 278 người mắc rối loạn chức năng khứu giác, kết quả cho thấy hầu hết các bệnh nhân đều cho biết họ gặp phải những khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày. Cụ thể, phàn nàn về gặp khó khăn khi nấu ăn (73%,), thay đổi tâm trạng (68%), chán ăn (56%), ăn đồ ôi thiu (50%), thích đồ ăn khét (30%), nhận thức quá ít về mùi cơ thể (41%) và gặp các vấn đề trong công việc (8%) [15]. Dịch tễ Khảo sát Kiểm tra Dinh dưỡng và Sức khoẻ Quốc gia Hoa Kỳ (NHANES) ở những người từ 40 tuổi trở lên có 12,4% số người gặp phải tình trạng rối loạn chức năng khứu giác (13,3 triệu người lớn; 55 % nam/45 % nữ).
Các tỷ lệ mắc bệnh cụ thể theo độ tuổi: 4,2 % (40–49 tuổi), 10% (50-59 tuổi), 12,7 % (60–69 tuổi), 25% (70-79 tuổi) và 39,4 % (80 tuổi trở lên) [12,16]. Riêng tình trạng mất khứu giác, có 3,2 % người trên 40 tuổi mắc phải (3,4 triệu; 74 % nam/26 % nữ) [16] và con số này lên đến 14%-22% ở những người trên 60 tuổi [12]. Mặc dù tỷ lệ mắc rối loạn khứu giác khá cao nhưng so với mất cảm giác ở các giác quan khác, suy giảm chức năng khứu giác thường ít được chú ý hơn bởi những người bị ảnh hưởng và thường được chẩn đoán muộn [3]. Có tới 74,2% những người được chẩn đoán bị rối loạn chức năng khứu giác không nhận ra tình trạng mình gặp phải [17].
Nguyên nhân Có rất nhiều nguyên nhân gây ra tổn thương khứu giác, một số nguyên nhân phổ biến nhất gây ra tình trạng này có thể kể đến như: hậu nhiễm trùng đường hô hấp trên (URI) (18–45%), bệnh mũi/xoang (7–56%), chấn thương đầu (8–20%), tiếp xúc với chất độc/thuốc độc (2–6%) và chứng mất khứu giác bẩm sinh (0–4%) [18]. Rối loạn chức năng khứu giác thứ phát sau bệnh xoang mũi Viêm mũi xoang bao gồm một nhóm các rối loạn đặc trưng bởi tình trạng viêm niêm mạc mũi và các xoang cạnh mũi. Viêm mũi xoang cấp tính kéo dài không quá 12 tuần trong khi viêm mũi xoang mạn tính (CRS) kéo dài trên 12 tuần. Tình trạng này thường là nguyên nhân gây ra rối loạn chức năng khứu giác, đặc trưng bởi biểu hiện giảm hoặc mất khứu giác bên cạnh các triệu chứng ở mũi (chẳng hạn như chảy nước mũi, đau vùng mũi, tắc nghẽn mũi) [10,19].
Đặc biệt, bệnh đa polyp mũi chiếm ít nhất 25% trong các trường hợp mất khứu giác và có thể ảnh hưởng đến hơn 10 triệu người Mỹ. Sở dĩ, những khiếm khuyết khứu giác ở bệnh nhân viêm mũi xoang xuất hiện là do sự giảm luồng khí và giảm sự vận chuyển chất tạo mùi đến khe khứu giác, lượng chất tạo mùi được đưa đến niêm mạc khứu giác giảm xuống dưới ngưỡng phát hiện [19]. Khám tai mũi họng có thể phát hiện polyp mũi và viêm niêm mạc mũi. Thử nghiệm khứu giác thường cho thấy ngưỡng mùi và khả năng phân biệt mùi giảm nhưng khả năng nhận biết mùi bình thường [10].
Rối loạn chức năng khứu giác sau nhiễm trùng PIOD Tổn thương khứu giác thường do nhiễm trùng nghiêm trọng đường hô hấp trên do virus gây ra và đây là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây suy giảm khứu giác. Sự khởi đầu của mất khứu giác có thể xảy ra đột ngột, bệnh nhân thường gặp phải chứng parosmia (cảm nhận được mùi này khi có sự kích thích của mùi khác) [10]. Sự bất thường về khứu giác bắt đầu sau khi nhiễm trùng với sự khởi phát viêm cấp tính ở niêm mạc mũi dẫn đến nghẹt mũi. Điều này làm suy giảm luồng không khí đi qua biểu mô khứu giác, dẫn đến giảm khả năng phát hiện chất tạo 5 mùi.
Tuy nhiên, phần lớn chức năng khứu giác sẽ bình thường khi tình trạng viêm cấp tính được kiểm soát. Một số loại virus phổ biến được xác định là gây ra PIOD là coronavirus, rhinovirus, parainfluenza virus và Epstein-Barr virus. Những loại virus này có thể làm hỏng chức năng khứu giác thông qua một số cơ chế khác nhau như: gây mất một phần tế bào thần kinh thụ thể khứu giác, gây ra những thay đổi ở tế bào biểu mô khứu giác, gây ra sự hình thành tế bào thần kinh chưa trưởng thành [20]. Đặc biệt trong những năm gần đây, dịch bệnh SARS-CoV-2 bùng phát mạnh mẽ.
Tính đến ngày 10 tháng 5 năm 2023, trên thế giới ghi nhận 765.278 ca mắc SARS-CoV-2 và có tới 6.378 trường hợp tử vong [4]. Các triệu chứng phổ biến mà bệnh nhân bị nhiễm COVID-19 gặp phải bao gồm sốt, ho, khó thở, đau cơ, nhức đầu, đau họng, chảy nước mũi, nghẹt mũi, tiết đờm,… [21]. Rối loạn chức năng khứu giác cũng là một trong những biểu hiện lâm sàng rất phổ biến ở bệnh nhân COVID‐19, có tới 47,85% bệnh nhân gặp phải tình trạng rối loạn chức năng khứu giác [5]. Cơ chế bệnh sinh của chứng rối loạn khứu giác liên quan đến COVID-19 vẫn chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn, một số cơ chế được cho là: do tổn thương thần kinh khứu giác, sự phá huỷ lớp biểu mô khứu giác (OE) gây ra bởi phản ứng viêm nghiêm trọng và có thể do nhiễm trùng tế bào thần kinh cảm giác khứu giác (OSN) trực tiếp qua trung gian thụ thể NRP-1 [21,22].
Rối loạn chức năng khứu giác liên quan đến bệnh thần kinh Một số rối loạn thần kinh có liên quan đến suy giảm chức năng khứu giác; do đó, suy giảm khứu giác không đặc trưng cho một bệnh thần kinh riêng biệt nào. Trong rối loạn thần kinh, rối loạn chức năng khứu giác chủ yếu được đặc trưng bởi khả năng xác định mùi và phân biệt mùi giảm, trong khi ngưỡng phát hiện mùi là bình thường. Ngoài ra, sự suy giảm chức năng khứu giác bắt đầu từ từ và không có chứng rối loạn khứu giác. Hai bệnh thần kinh phổ biến nhất hiện nay có liên quan đến suy giảm khứu giác là bệnh Alzheimer (AD) và bệnh Parkinson (PD) [10].
6 Rối loạn chức năng khứu giác là một dấu hiệu tiền lâm sàng của bệnh Parkinson, tỷ lệ bệnh nhân mắc PD gặp phải rối loạn khứu giác lên đến hơn 90% [23]. Bệnh nhân mắc PD bị suy giảm nghiêm trọng chức năng khứu giác và thường xuất hiện từ nhiều năm trước khi xuất hiện các triệu chứng vận động như run, cứng đờ và dáng đi chậm [23,24]. Cơ chế gây rối loạn chức năng khứu giác do PD là sự thay đổi của một hay nhiều các chất dẫn truyền thần kinh như acetylcholine, dopamine, norepinephrine và serotonin. Ngoài ra, những tế bào thần kinh chứa α-synuclein là những tế bào dễ bị tổn thương do PD trong khi tế bào thần kinh của hệ thống khứu giác lại chứa α-synuclein, do đó ở bệnh PD, tế bào thần kinh khứu giác bị tổn thương dẫn đến tình trạng rối loạn chức năng khứu giác [23].
Tương tự như bệnh PD, rối loạn chức năng khứu giác có thể là một trong những triệu chứng lâm sàng sớm nhất và nó có thể đánh giá mức độ nghiêm trọng và sự tiến triển của AD. Nghiên cứu hiện tại cho thấy rối loạn chức năng khứu giác do AD có liên quan đến những thay đổi bệnh lý của protein tau trong hành khứu giác [25]. Ngoài ra, trầm cảm là một trong những rối loạn tâm thần phổ biến nhất, và tình trạng này cũng có thể gây suy giảm chức năng khứu giác [10]. Rối loạn chức năng khứu giác sau chấn thương Suy giảm khứu giác có thể xảy ra đột ngột hoặc từ từ sau chấn thương [10,24], ở bất kỳ phần nào của đường khứu giác từ khoang mũi đến não [26].
Kiểm tra khứu giác cho thấy ngưỡng mùi và khả năng phân biệt mùi bị suy giảm, trong khi khả năng nhận biết mùi vẫn bình thường. Theo báo cáo, có tới 60% bệnh nhân chấn thương sọ não có biểu hiện rối loạn chức năng khứu giác. Tỷ lệ mất khứu giác dao động từ 8% đến 34% và tăng theo mức độ nghiêm trọng của chấn thương sọ não. Ba cơ chế bệnh sinh của rối loạn chức năng khứu giác sau chấn thương được phát hiện bao gồm sự phá vỡ, tổn thương đường xoang; bị cắt hoặc kéo dài các sợi thần kinh khứu giác; và dập hoặc xuất huyết khu trú trong hành khứu giác và vỏ não [27].