Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu Tác giả trình bày các nội dung chính sau: (1) Lý do chọn đề tài nghiên cứu; (2) Mục tiêu nghiên cứu; (3) Đối tượng, phạm vi nghiên cứu; (4) Phương pháp nghiên cứu và (5) Cấu trúc của báo cáo nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Tác giả trình bày các nội dung chính: (1) Khái niệm, đo lường về văn hóa tổ chức; (2) Khái niệm, đo lường về PSM; (3) Các nghiên cứu trước có liên quan; (4) Mô hình nghiên cứu đề xuất. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Tác giả trình bày các nội dung chính sau: (1) Quy trình nghiên cứu; (2) Phương pháp nghiên cứu định tính; (3) Phương pháp nghiên cứu định lượng. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Tác giả trình bày các nội dung chính sau: (1) Mô tả mẫu nghiên cứu; (2) Kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach,s Alpha; (3) Phân tích nhân tố khám phá (EFA); (4) Phân tích hệ số tương quan, phân tích hồi quy tuyến tính, kiểm định mô hình tổng thể và các giả thuyết nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Tác giả trình bày các nội dung chính sau: (1) Kết luận; (2) Đề xuất hàm ý quản trị; (3) Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 18 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm Văn hóa tổ chức là thói quen, cách nghĩ truyền thống và cách làm việc trong tổ chức được chia sẽ bởi tất cả các cá nhân trong tổ chức (Elliott Jaques, 1952). Văn hóa tổ chức là hệ thống những ý nghĩa chung được chấp nhận rộng rãi bởi những người lao động trong thời gian nhất định (Adrew Pettgrew, 1979).
Văn hóa tổ chức bao gồm tầm nhìn, giá trị, sứ mạng của tổ chức cùng với hệ thống nguyên tắc, biểu tượng, ngôn ngữ, niềm tin hay những thói quen của tổ chức được đúc kết theo thời gian (Schein, 1990). Văn hóa tổ chức là quá trình hoạt động của tổ chức và chia sẽ các giá trị (Applegate & cộng sự, 1999) và là tiêu chuẩn hướng dẫn thái độ và hành vi của nhân viên trong một tổ chức (Baumgartner & Zielowski, 2007). Văn hóa tổ chức có thể khác nhau theo vai trò, cơ cấu quyền lực, khả năng quản lý và tập hợp văn hóa quốc gia hoặc địa phương mà nhà quản lý đưa vào một tổ chức (Deal & Kennedy, 1983). Một tổ chức có nền văn hóa đặc trưng của nó và phát triển theo thời gian để phản ánh bản sắc văn hóa của tổ chức đó theo hai dạng: Văn hóa hữu hình và văn hóa vô hình.
Dạng văn hóa hữu hình là những triết lý, sứ mạng, những giá trị để hướng dẫn các hoạt động hàng ngày của tổ chức. Dạng văn hóa vô hình nằm trong hệ thống những quy tắc chưa thể hiện ra, hướng dẫn cách thực hiện, hành vi được chấp nhận (Mc Dermott & O,Dell, 2001). Văn hóa tổ chức gồm hai lớp khái niệm: Văn hóa hữu hình là tiêu chuẩn, hành vi, trang phục, quy định, nghệ thuật giao tiếp, ngôn ngữ sử dụng, lễ nghi. Văn hóa vô hình là các giá trị chung, quy tắc, sự tin cậy, các giả định của tổ chức.
Văn hóa tổ chức ngoài khả năng tích hợp các hoạt động hàng ngày của nhân viên để đạt được mục tiêu kế hoạch và giúp tổ chức thích nghi tốt với môi trường bên ngoài để phản ánh nhanh và thích hợp (Schein, 2004). Văn hóa tổ chức là tập hợp đại diện cho các giá trị, niềm tin và nguyên tắc của các cá nhân trong một tổ chức và là một sản phẩm gồm các yếu tố như: Lịch sử, dịch vụ, sản phẩm của tổ chức, thị trường mà tổ chức tham gia, công nghệ, chiến lược của tổ chức, các kiểu nhân viên và phương pháp điều hành, quản lý của tổ chức. Khi nói đến TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 19 văn hóa tổ chức, người ta thường nói nhiều về hệ thống các niềm tin được hiểu và được chia sẽ bởi các thành viên trong tổ chức (Needle & cộng sự, 2004). Văn hóa tổ chức là tập hợp các giá trị và hành vi cấu thành nên các mối liên hệ tâm lý và xã hội trong một tổ chức.
Khi nhắc đến văn hóa tổ chức là phải nghĩ đến tập hợp giá trị, niềm tin và được chia sẽ bởi cá nhân trong tổ chức (Business Dictionary, 2015). Với nghiên cứu này, tác giả kế thừa khái niệm của Business Dictionary (2015): “Văn hóa tổ chức là hệ thống những giá trị, niềm tin, sự mong đợi của các cá nhân trong tổ chức, những nguyên tắc, thói quen được đúc kết theo thời gian và được chia sẽ bởi các cá nhân trong tổ chức, qua đó tạo mối liên kết giữa tâm lý của cá nhân và xã hội, có tác động tích cực đến hành vi và nhận thức của các cá nhân đó trong tổ chức”. Đo lường Nghiên cứu của Perry & cộng sự (1996), khẳng định mối quan hệ giữa văn hóa tổ chức và PSM, được đo lường bởi các yếu tố như: Yếu tố: Sự tự chủ trong công việc; Yếu tố: Hệ thống đánh giá kết quả công việc; và Yếu tố: Môi trường làm việc. Nghiên cứu của Moynihan & Pandey (2007), cho rằng động lực phụng sự công được nuôi dưỡng thông qua văn hóa tổ chức, văn hóa tổ chức tác động đến PSM được đo lường bởi các yếu tố như: Yếu tố: Sự tự chủ trong công việc; Yếu tố: Môi trường làm việc; Yếu tố: Sự quan tâm của người quản lý; Yếu tố: Vai trò của người lãnh đạo; Yếu tố: Mức độ quan liêu; Yếu tố: Văn hóa thứ bậc.
Nghiên cứu của Paarlberg (2008) cho rằng, sự tương tác giữa các yếu tố văn hóa tổ chức đến PSM được đo lường bởi các yếu tố như: Yếu tố: Truyền đạt cho mỗi cá nhân hiểu được tầm quan trọng về mặt xã hội và các giá trị dịch vụ công; Yếu tố: Môi trường và điều kiện làm việc tiện lợi; Yếu tố: Đề cao tính tự chủ trong công việc; Yếu tố: Sự tương tác, hỗ trợ lẫn nhau trong giải quyết công việc; Yếu tố: Xây dựng hệ thống đánh giá một cách minh bạch; Yếu tố: Phong cách và năng lực của người lãnh đạo. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Uyên Tú (2016) cho rằng, văn hóa tổ chức tác động đến PSM của CBCC được đo lường bởi 06 yếu tố thành phần gồm có: (1) Yếu tố: Sự tự chủ trong công việc; Yếu tố: Hệ thống đánh giá kết quả công việc; Yếu tố: Sự quan tâm của người quản lý trực tiếp; Yếu tố: Môi trường và điều kiện làm việc; Yếu tố: Vai trò của người lãnh đạo; Yếu tố: Sự quan liêu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Động lực phụng sự công (Public Service Motivation: PSM) 2.
Khái niệm Động lực phụng sự công (PSM) được hiểu là giá trị, niềm tin và tinh thần vượt qua giới hạn lợi ích của cá nhân và tổ chức, quan tâm đến lợi ích của một thực thể giá trị lớn hơn và thúc đẩy cá nhân hành xử chính đáng khi cần thiết (Vandenabeele, 2007). PSM còn được hiểu là động lực phục vụ xã hội, được kích hoạt bởi các giá trị cụ thể phát sinh ở tổ chức công và các nhiệm vụ của họ (Perry & cộng sự, 2010) trích trong Giauque & cộng sự (2015). PSM còn là xu hướng mà mỗi cá nhân trong xã hội phản ứng lại các động cơ chủ yếu bắt nguồn từ các tổ chức công. Sự phản ứng đó xuất phát từ ba nhóm động cơ chính của cá nhân, đó là: (1) Động cơ duy lý (rational): Mong muốn tham gia vào quá trình hoạch định chính sách ở tổ chức công; (2) Động cơ chuẩn mực (norm-based): Mong muốn được phục vụ cộng đồng, tinh thần đóng góp cho sự phát triển của xã hội, phục vụ người dân; (3) Động cơ duy cảm (affective): Sự cam kết, cống hiến cho chương trình, chính sách công vì các chương trình, chính sách đó có tác động lớn đến xã hội (Perry & Wise,1996) trích trong Giauque & cộng sự (2015).
PSM được đo lường trên 04 bình diện: (1) Cuốn hút vào xây dựng chính sách công dựa trên những động cơ hợp lý; (2) Cam kết với lợi ích công dựa trên các quy tắc; (3) Đam mê nối kết với động cơ cảm xúc và (4) Sự hy sinh bản thân gắn liền với sự tự nguyện đánh đổi những lợi ích cá nhân để giúp đỡ người khác (Perry, 1996) trích trong Giauque & cộng sự (2015). Bright (2005) và Perry (1997) trích trong Giauque & cộng sự (2015) cho rằng tuổi tác, giới tính và các cấp độ giáo dục có tác động đến PSM. Những người có thâm niên công tác được ghi nhận đạt mức độ phụng sự công cao hơn so với những người trẻ tuổi; Nam giới đạt mức độ phụng sự công cao hơn nữ giới và người có trình độ học vấn cao hơn cũng đạt được mức độ phụng sự công cao hơn. Brew & cộng sự (2000) trích trong Moynihan & cộng sự (2007), cho rằng PSM là yếu tố trọng tâm không chỉ là động cơ thúc đẩy mà còn cả hiệu suất, cải tiến thực hiện quản lý, trách nhiệm giải trình và niềm tin trong Chính phủ.
Perry & Wise (1990) trích trong Vandenabeele (2009), cho rằng PSM có tác động tích cực đến hiệu quả công việc của từng nhân viên trong tổ chức công. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 21 Sự hiện diện của PSM dẫn đến mức độ cam kết cao hơn và sự hài lòng của nhân viên làm việc trong môi trường khu vực công dẫn đến hiệu quả công việc cao hơn (Park & Rainey, 2007, 2008) trích trong Vandenabeele (2009). Vandenabeele (2009), cho rằng mối quan hệ giữa PSM và hiệu quả công việc có tác động trung gian của sự hài lòng công việc và cam kết tổ chức cho thấy, người làm việc trong tổ chức công có mức độ phụng sự công cao dẫn đến hiệu quả công việc cao hơn. Với nghiên cứu này, tác giả kế thừa khái niệm của Vandenabeele (2007) và của Perry & cộng sự (2010): PSM là giá trị, niềm tin và là động lực phục vụ xã hội của mỗi cá nhân trong tổ chức công, mong muốn được cống hiến nhằm mang lại giá trị dịch vụ công tốt nhất, có lợi cho cộng đồng và xã hội.
Đo lường Perry & Wise (1990) cho rằng, PSM thường bị ảnh hưởng bởi các yếu tố xã hội, chính trị, thể chế khác nhau và sự thất bại của tổ chức để nhận ra động lực của nhân viên có thể dẫn đến sự chán nản của những cá nhân đó từ khu vực công.