phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, và mục lục, nội dung chính của luận văn gồm 2 chương, 4 tiết. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ KINH TẾ THỊ TRƢỜNG ĐỊNH HƢỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 1. Công bằng xã hội và kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa 1. Công bằng xã hội Công bằng xã hội là một vấn đề xuyên suốt được đặt ra trong lịch sử nhân loại từ thời cổ đại đến nay.
Khi loài người nhận thức được bất công xã hội ở mức độ nào thì sẽ hướng tới sự công bằng ở mức độ tương ứng. Như vậy, trong mỗi xã hội sẽ có những chuẩn mực riêng về công bằng xã hội, do hoàn cảnh lịch sử cụ thể của giai đoạn đó qui định.Ăngghen từng nhận xét: chân lý của người Hi Lạp và La Mã cho rằng chế độ nô lệ là công bằng. Chân lý của nhà tư sản năm 1789 đòi hỏi thủ tiêu chế độ phong kiến vì chế độ ấy không công bằng…Do đó, khái niệm về công bằng xã hội biến đổi, chẳng những cùng với thời gian và không gian mà cả cùng với bản thân con người nữa. Trong chế độ công xã nguyên thuỷ, công bằng xã hội có nghĩa là mọi người đều phải tuân theo trật tự đã được cộng đồng thừa nhận, ai vi phạm sẽ bị trừng phạt.
Khi sở hữu tư nhân xuất hiện thì nội dung của khái niệm công bằng cũng thay đổi: sự công bằng được xem xét trong mối quan hệ với địa vị xã hội. Platôn cho rằng: dù xã hội không có sự bình đẳng nhưng vẫn có sự công bằng, bởi lẽ công bằng là ở chỗ mỗi hạng người dù ở địa vị xã hội nào cũng phải làm hết trách nhiệm của mình, biết sống đúng với tầng lớp của mình và phải biết được thân phận mình. Từ thế kỉ XVI, cùng với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản, những tư tưởng về công bằng xã hội đã tạo nên sự thay đổi có tính chất bước ngoặt trong lịch sử tư tưởng về công bằng, tiến bộ xã hội của nhân loại. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhà triết học vĩ đại người Pháp J.Rutxo tập trung phê phán quan hệ đẳng cấp, bất bình đẳng trong xã hội tư bản; phê phán tính hai mặt của sở hữu tư nhân.
Ông cho rằng đó là nguyên nhân làm cho xã hội phân chia giàu nghèo, làm gia tăng sự bất công trong xã hội. Muốn xoá bỏ tình trạng đó con người phải thiết lập “khế ước xã hội” để cải biến chính mình, loại bỏ tính xấu xa, đặc biệt là lòng tham và tính ích kỉ thì sẽ đạt được công bằng và bình đẳng. Đây là những giải pháp trừu tượng và khó thực hiện. Còn theo nhà triết học Đức I.Cantơ thì công bằng xã hội gồm: công bằng về bảo hộ, công bằng trong trao đổi và phân phối.
Trong đó, ông nhấn mạnh công bằng trong phân phối là quan trọng nhất. Cantơ chủ trương xây dựng một xã hội văn minh, đề cao công bằng, bình đẳng trong phân phối. Mặc dù chưa đầy đủ nhưng quan niệm phân phối công bằng của Cantơ là một nguyên tắc quan trọng trong việc đi tới công bằng xã hội. Các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng (H.Owen) bày tỏ mơ ước về một xã hội công bằng, ở đó không có chế độ tư hữu, bóc lột, bất công, mọi người đều lao động và hưởng thụ như nhau.
Tuy nhiên, đó chỉ là mô hình một xã hội lý tưởng, công bằng ở đây là thứ công bằng bình quân chủ nghĩa và không có lực lượng, giải pháp nào để đi tới xây dựng một xã hội như mơ ước. Mục tiêu hàng đầu đặt ra tại các nước tư bản chủ nghĩa là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vấn đề công bằng xã hội chỉ được quan tâm khi tác động tiêu cực của kinh tế thị trường làm gay gắt các vấn đề xã hôị, tạo ra nguy cơ bùng nổ xã hội, đe doạ sự tồn vong của chủ nghĩa tư bản. Mục đích giải quyết các vấn đề xã hội của nhà nước tư sản chỉ giới hạn trong khuôn khổ chế độ tư bản chủ nghĩa và được xem như phương sách ổn định chế độ tư bản chủ nghĩa, do đó, công bằng trong xã hội tư sản khó có thể trở thành mục tiêu, thành động lực cho sự phát triển. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khách quan mà nói, chủ nghĩa tư bản hiện đại đã đạt được một số thành công nhất định trong việc thực hiện công bằng xã hội nhằm xoa dịu bớt những xung đột xã hội vốn có của nó thông qua một số cuộc cải cách xã hội.
Nhờ đó, trong một chừng mực nhất định đã làm dịu bớt đi những mâu thuẫn gay gắt tồn tại trong lòng xã hội tư sản. Tuy nhiên, với bản chất thống trị, bóc lột, chủ nghĩa tư bản không thể và không muốn giải quyết triệt để vấn đề công bằng xã hội. Tổng thống Mỹ - Bill Clinton - phải thừa nhận: Thị trường là một thứ kì diệu, nhưng nó không cho chúng ta những đường phố an toàn, môi trường sạch sẽ, các cơ hội học hành công bằng và không đảm bảo sức khoẻ cho trẻ em nghèo bắt đầu cuộc sống hoặc tuổi già khoẻ mạnh và an toàn. Hiện nay, chủ nghĩa tư bản đang phải đối mặt với nhiều thách thức về công bằng xã hội gay gắt, nhất là khi vấn đề này được xem xét trong điều kiện tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng cao.
Nhà kinh tế học người Pháp, Ôlivio de Saloges, có lý khi cho rằng: Đông đảo quần chúng không thể hiểu được rằng một sự tăng trưởng kinh tế ngày càng gia tốc lại được thể hiện bằng sự phân phối bất công đến thế vì thu nhập cá nhân và bất bình đẳng ngày càng trầm trọng. Trong bối cảnh đó, xuất hiện nhiều trào lưu tư tưởng và lý thuyết về công bằng xã hội. Chẳng hạn như trào lưu cổ điển và tân cổ cho rằng muốn phát triển phải bớt công bằng đi vì không thể cùng một lúc vừa có tăng trưởng kinh tế vừa có công bằng xã hội. Khi nào kinh tế phát triển đến một mức độ nhất định mới có điều kiện để thực hiện công bằng xã hội.
Thuyết “Nền kinh tế hỗn hợp” do P.Samuelson - nhà kinh tế học người Mỹ - đưa ra lại khẳng định: phải kết hợp giữa kinh tế thị trường với Nhà nước. Theo ông, sự bất công sinh ra từ kinh tế thị trường là tất yếu, vì vậy, chính phủ phải thông qua những chính sách phân phối lại thu nhập, điều hoà những bất công trong xã hội. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong tác phẩm “Một lý thuyết về công bằng”, nhà xã hội học Mỹ John Rawls coi : “Công bằng là đặc tính quan trọng đầu tiên của thể chế xã hội cũng như chân lý là đặc tính đầu tiên của hệ tư tưởng” [Trích theo 58;65]. Những bất công về kinh tế và xã hội phải tổ chức sao cho mọi người đều có thể chấp nhận và chúng gắn với những vị trí và chức năng được mở ra cho tất cả mọi người.
Ông đưa ra nguyên tắc: tối đa hoá cái tối thiểu cho những người bị yếu thế trong xã hội và xem đó như là lý tưởng công bằng xã hội và con đường để tiến lên xã hội đó là bằng đạo đức.Lênin, các ông đã xem xét công bằng xã hội một cách toàn diện, hệ thống hơn trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những tư tưởng tiến bộ của các nhà lý luận trước đó.Mác, sự phát triển kinh tế tư bản về bản chất không thể dẫn tới công bằng xã hội được. Phương thức phân phối trong chủ nghĩa tư bản là bất hợp lý vì nó không dựa vào sức lao động, do giai cấp tư sản - người chiếm hữu tư liệu sản xuất - quyết định và kết quả của phương thức phân phối này là: nhà tư bản ngày càng giàu lên trên sự đau khổ và nghèo đói của những người công nhân và nhân dân lao động.Mác đã đưa ra quan niệm về nguyên tắc phân phối đảm bảo công bằng xã hội trong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gô - ta”. Mác chỉ rõ rằng trong xã hội xã hội chủ nghĩa, sau khi đã khấu trừ đi những khoản cần thiết để duy trì sản xuất, tái sản xuất cũng như để duy trì đời sống của cộng đồng, toàn bộ số sản phẩm xã hội còn lại sẽ được phân phối theo nguyên tắc: “mỗi người sản xuất sẽ được nhận lại từ xã hội một số lượng vật phẩm tiêu dùng trị giá ngang với số lượng lao động mà anh ta đã cung cấp cho xã hội (sau khi đã khấu trừ số lao động của anh ta cho các quĩ xã hội)” [49;31].Mác đây là một nguyên tắc phân phối công bằng, nhưng C.Mác cũng chỉ rõ, trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội, sự phân phối đó chưa loại trừ được mà vẫn còn hàm chứa trong nó sự chấp nhận một tình trạng bất bình đẳng nhất định giữa các thành viên trong xã hội vì những người lao động không phải ai cùng 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com như ai, người này khác người kia về thể chất và tinh thần, về năng lực lao động và tay nghề, về hoàn cảnh gia đình…Vì vậy, “với một công việc ngang nhau và do đó, với một phần tham dự như nhau vào quĩ tiêu dùng xã hội, thì trên thực tế, người này vẫn lĩnh nhiều hơn người kia, người này vẫn giàu hơn người kia…” [49;35]. Đó vừa là ưu việt vừa là thiếu sót của nguyên tắc phân phối theo lao động.Mác điều đó khó có thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Thiếu sót đó chỉ có thể khắc phục trong chủ nghĩa cộng sản, khi có thể thực hiện được nguyên tắc phân phối: làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu. Nhận thức sâu sắc lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về công bằng xã hội, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán trong tư tưởng và hành động về việc phải xây dựng một xã hội Việt Nam công bằng, bình đẳng. Hồ Chí Minh chỉ rõ nội hàm của công bằng xã hội là mọi người được ăn no, mặc ấm, tự do trong chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là xây dựng một xã hội không có người bóc lột người, một xã hội trong đó mọi người đều bình đẳng.