MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, đất nước tất yếu sẽ dẫn đến quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất, một bộ phận diện tích đất nông nghiệp được chuyển sang đáp ứng nhu cầu phát triển các khu đô thị, khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất…,dẫn đến hàng vạn hộ gia đình nông nghiệp, nông thôn mất đất sản xuất, cũng như hàng triệu lao động nông nghiệp buộc phải chuyển đổi nghề nghiệp do mất tư liệu sản xuất. Việc phát triển các khu đô thị, khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp. đi liền đồng thời với việc thu hồi đất, trong đó chủ yếu là đất nông nghiệp và thường thuộc các vùng ven đô thị, khu vực có giao thông thuận lợi, có tiềm năng, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội.
Có thể nhận thấy được tác động tích cực của quá trình này đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, song cũng đặt ra nhiều thách thức, tồn tại đối với việc ổn định sinh kế, giải quyết công ăn, việc làm, ổn định đời sống của người dân có đất bị thu hồi. Nếu không thực hiện tốt các chính sách bồi thường, hỗ trợ, cũng như không có các giải pháp kịp thời, phù hợp trong quá trình thu hồi đất sẽ dẫn đến những hệ quả xấu như người nông dân mất đất rất khó trong việc chuyển đổi nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, sử dụng số tiền đền bù và hỗ trợ không đúng mục đích, rơi vào vòng luẩn quẩn, nghèo nàn, phát sinh các tệ nạn xã hội… Giải quyết việc làm ổn định và từng bước nâng cao đời sống người dân có đất bị thu hồi là nhiệm vụ của các cấp, các ngành và của toàn xã hội. Huyện Mê Linh nằm ở phía Tây Bắc của Thủ đô, các trung tâm Hà Nội 30 km, với diện tích đất tự nhiên là 14,246.10 ha bao gồm 16 xã và 2 thị trấn, có nhiều điều kiện phát triển kinh tế - xã hội đặc biệt là công nghiệp, tiếp giáp với sân bay quốc tế Nội Bài, hệ thống giao thống đối ngoại đồng bộ thuận tiện như đường cao tốc Bắc Thăng Long –Nội Bài, nằm trên các tuyến kết nối với các tỉnh phía bắc như Tuyên Quang, Hà Giang… với Hà Nội. Cùng với xu thế chung của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong những năm qua huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội cũng đã tiến hành thu hồi nhiều diện tích đất nông nghiệp để phục vụ Luan van 2 xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị và hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội, góp phần quan trọng trong việc thay đổi bộ mặt nông thôn, phát triển kinh tế và nâng cao đời sống người dân, song cũng nảy sinh các hệ quả tiêu cực về đời sống và việc làm của người dân bị thu hồi đất trong quá trình chuyển đổi này.
Việc nông dân bị mất đất trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa là cơ hội hay thách thức, đời sống và việc làm của các nhóm xã hội nông thôn trong quá trình này phụ thuộc vào các nhân tố nào, vai trò của nhà nước đến đâu trong việc hỗ trợ nông dân thông qua các chính sách khi thu hồi đất nông nghiệp. Đây là vấn đề của nhiều nhà nghiên cứu cũng như nhà quản lý và nhà hoạch định chính sách quan tâm. Mặc dù đã có những công trình nghiên cứu đánh giá, báo cáo về đời sống của người dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp, nhưng do đặc điểm của mỗi địa bàn khác nhau, cộng với các hạn chế trong điều tra thực tế nên vẫn còn gây ra những vấn đề còn tranh cãi. Chính vì lẽ đó, việc thực hiện đề tài “Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến đời sống và việc làm của người dân trên địa bàn huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội” là rất cần thiết.
Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá thực trạng thu hồi đất nông nghiệp ảnh hưởng đến đời sống và việc làm của người dân trên địa bàn huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội. - Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sống và việc làm cho người dân khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - Ý nghĩa khoa học: Góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về công tác thu hồi, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp. - Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội cũng như các địa bàn khác có điều kiện tương đồng.
Luan van 3 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về thu hồi đất nông nghiệp 1. Vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân 1.
Vấn đề nông nghiệp, nông thôn a. Khái niệm về nông nghiệp, nông thôn Theo nghĩa thông thường, nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất sử dụng đất đai và sinh vật làm ra sản phẩm nông nghiệp. Cách định nghĩa này chỉ dừng lại ở sản xuất nông nghiệp truyền thống. Tuy nhiên, nền kinh tế càng phát triển thì yêu cầu của xã hội đối với nông nghiệp càng cao.
Nông nghiệp không chỉ đơn thuần là sản xuất ra các sản phẩm tươi sống mà còn bao gồm cả khâu chế biến, marketing và tiêu thụ nông sản. Vì vậy được định nghĩa theo phạm vi rộng hơn, nông nghiệp là ngành sản xuất – kinh doanh làm ra thực phẩm nông sản, bao gồm cả sản xuất nông nghiệp, chế biến, marketing và phân phối các thực phẩm nông sản. [4] Nông thôn là: Khu vực của nền kinh tế mà trong đó các hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp được tiến hành. Nông thôn là khu vực khác với thành thị về không gian, hoạt động kinh tế, đặc điểm cộng đồng và sinh thái.
Nông thôn gắn liền với đời sống, tập tục và bản sắc văn hoá của một cộng đồng. Về phương diện kinh tế, nông thôn bao gồm cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường, văn hoá, tài nguyên thiên nhiên, tổ chức và thể chế, công nghiệp và hạ tầng cơ sở b. Những vấn đề chung của nông nghiệp, nông thôn Nông nghiệp nước ta vẫn là ngành sản xuất quan trọng của nền kinh tế. Nông nghiệp tao ra 85% việc làm cư dân nông thôn và là nguồn sinh kế kiếm sống của hơn 70% dân số cả nước.
Trong thời gian qua, nông nghiệp, đặc biệt là lương thực thực phẩm tăng khá, đã góp phần to lớn vào việc bảo đảm an ninh lương thực và góp phần quan trọng ổn định chính trị, xã hội của đất nước. Trong 10 năm (2008- 2018) thực hiện Nghị quyết Hội nghị T.Ư 7 (khóa X), tám năm (2010-2018) thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới, 5 năm thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp đã tạo nên một khu vực nông thôn với nhiều đổi thay Luan van 4 rõ nét, kết cấu hạ tầng phát triển mạnh mẽ, hơn 20.000 mô hình phát triển sản xuất đã tạo nên động lực mới cho phát triển kinh tế khu vực nông thôn, sản xuất nông nghiệp hàng hóa được coi trọng và chuyển biến, đời sống của đại đa số nông dân được nâng cao. Tính đến nay, cả nước có 3.420 xã (38,32%) được công nhận đạt chuẩn NTM, đã có 53 đơn vị cấp huyện thuộc 27 tỉnh, thành phố được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được thì kết quả xây dựng NTM và giảm nghèo bền vững giữa các vùng còn có sự chênh lệch lớn; kinh tế tư nhân và kinh tế tập thể chưa được thúc đẩy tích cực, lợi thế địa phương về sản vật, cảnh quan, văn hóa.
Quan điểm, định hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn - Quan điểm phát triển nông nghiệp Phát triển nông nghiệp - nông thôn đóng vai trò chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế xã hội, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc phòng, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái đất nước. Các vấn đề phát triển nông nghiệp nông thôn phải giải quyết đồng bộ gắn với công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Phát triển nông nghiệp, nông thôn phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đai, rừng và biển; khai thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế; phát huy cao nội lực, đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội; ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân.
- Định hướng phát triển nông nghiệp Trên cơ sở tính toán cân đối giữa nhu cầu tương lai của đất nước và dự báo nhu cầu chung của thế giới nhằm đảm bảo tuyệt đối an ninh lương thực quốc gia trong mọi tình huống, đảm bảo quyền lợi hợp lý của người sản xuất và kinh doanh Luan van 5 lúa gạo và xuất khẩu có lợi nhuận cao, đảm bảo sản lượng lúa đến năm 2020 đạt hơn 41 triệu tấn lúa trên diện tích canh tác 3,7 triệu ha. Người sản xuất tại các vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng được hỗ trợ để chủ động áp dụng các giải pháp thay thế hệ thống canh tác (mà không làm biến đổi lớn đến cơ sở hạ tầng và tính chất đất lúa) khi thị trường lúa thu hẹp như nuôi trồng thủy sản, luân canh với cây trồng khác, hoặc tăng vụ khi thị trường lúa gạo mở rộng.