Mở đầu. Chương này giới thiệu sự cần thiết nghiên cứu; mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước. Chương 2 trình bày lý thuyết về thu nhập và các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình; các phương pháp đánh giá tác động chính sách; tổng quan chính sách thu hồi đất tại Việt Nam; tình hình các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này gồm khung nghiên cứu, mô hình nghiên cứu; các chỉ tiêu đo lường các khái niệm nghiên cứu; mô tả dữ liệu, kỹ thuật phân tích dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương 4 giới thiệu vùng nghiên cứu; trình bày thống kê mô tả về mẫu nghiên cứu; đánh giá tác động của thu hồi đất đến thu nhập của hộ gia đình; thảo luận kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và các khuyến nghị. Chương này trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu; đề xuất các chính sách nhằm ổn định và nâng cao thu nhập cho các hộ dân bị thu hồi đất trên địa bàn thị xã Hà Tiên. Đồng thời, chương này cũng chỉ ra những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Chương 2.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Khái niệm hộ gia đình Theo Haviland (2003) thì hộ gia đình là những người cùng sống chung một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ. Ở Việt Nam, hộ là một khái niệm đã tồn tại ngay từ thời phong kiến. Nó cũng được coi là một đơn vị tế bào của xã hội, nhưng không phải bao giờ cũng trùng khớp với gia đình.
Hiện nay, trong các văn bản pháp luật, hộ được xem như là chủ thể trong các quan hệ dân sự do pháp luật quy định và được định nghĩa như là một đơn vị mà các thành viên có hộ khẩu chung, tài sản chung và hoạt động kinh tế chung. Từ các quan niệm trên, ta có thể khái quát, hộ là một tập hợp chủ yếu và phổ biến của những thành viên có chung huyết thống, tuy vậy cũng có trường hợp đặc biệt không cùng chung huyết thống như con nuôi, người làm công. Hộ nhất thiết phải là một đơn vị kinh tế, có nguồn lao động chung, có vốn và chương trình, kế hoạch sản xuất, kinh doanh chung, có ngân quỹ chung,… Hộ có những đặc điểm thay đổi theo thời gian. Khi xã hội còn ở trình độ phát triển thấp, với kinh tế tự cấp tự túc là nhân tố cơ bản cấu thành nên hộ.
Song, khi xã hội phát triển cao hơn, thì các thành viên của hộ có thể không còn làm chung và ăn chung nữa. Họ có thể cùng sống chung, nhưng làm việc ở những nơi khác nhau và có thể chỉ đóng góp một phần thu nhập vào một số hoạt động chung của hộ. Phân loại hộ gia đình dựa vào tình trạng việc làm của các thành viên trong hộ. Hộ không làm việc: là hộ không có thành viên trong gia đình làm công ăn lương và không có bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào.
Hộ làm công: là hộ có các thành viên trong gia đình làm công ăn lương và hộ không có bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào. Hộ thuần nông: là hộ có các thành viên trong gia đình đều làm việc trong khu vực nông nghiệp. Hộ sản xuất kinh doanh: là những hộ gia đình mà việc làm của những thành TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 viên trong hộ đều thuộc khu vực công nghiệp và khu vực dịch vụ. Thu nhập của hộ gia đình Theo Singh và Strauss (1986) cho rằng thu nhập của hộ gia đình gồm thu nhập chính từ nông nghiệp và thu nhập từ phi nông nghiệp.
Theo Tổng cục Thống kê (2011) thì thu nhập của hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ gia đình và các thành viên trong hộ nhận được trong một thời gian nhất định, thường là một năm. Thu nhập bao gồm: (1) Thu nhập từ tiền công, tiền lương; (2) Thu nhập từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản (sau khi đã trừ chi phí và thuế sản xuất); (3) Thu nhập từ ngành nghề phi nông, lâm, thủy sản (sau khi đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất); (4) Thu khác được tính vào thu nhập như cho biếu, mừng, lãi tiết kiệm và các khoản thu khác. Việc thu thập thông tin về thu nhập cần lưu ý giữa các khoản thu tính vào thu nhập và các khoản thu không tính vào thu nhập. Các khoản không tính vào thu nhập gồm rút tiền tiết kiệm, thu nợ, bán tài sản, vay nợ, tạm ứng và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được do liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh và các khoản thu nhập khác.
Khung sinh kế Khái niệm sinh kế có thể được hiểu và sử dụng theo nhiều cách khác nhau. Theo Bộ phát triển quốc tế Anh (DFID) thì sinh kế có thể được miêu tả là sự tập hợp các nguồn lực và khả năng con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm kiếm sống cũng như để đạt các mục tiêu và ước nguyện của họ (DFID, 2007). Một sinh kế bền vững khi nó có khả năng ứng phó và phục hồi khi bị tác động hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại và trong tương lai trong khi không làm xói mòn nền tảng nguồn lực tự nhiên (Tim Hanstad và cộng sự, 2004; Diana Carney, 1998). Theo Nguyễn Văn Toàn và cộng sự (2012), khung sinh kế là một công cụ được xây dựng nhằm xem xét một cách toàn diện tất cả các yếu tố khác nhau ảnh hưởng như thế nào đến sinh kế của con người, đặc biệt là các cơ hội hình thành nên chiến lược sinh kế của con người.
Đây là cách tiếp cận toàn diện nhằm xây dựng các lợi thế hay chiến lược đặt con TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 người làm trung tâm trong quá trình phân tích. Thành phần cơ bản của khung phân tích sinh kế gồm các nguồn vốn (tài sản), tiến trình thay đổi cấu trúc, ngữ cảnh thay đổi bên ngoài, chiến lược sinh kế và kết quả của chiến lược sinh kế đó (hình 2. Bối cảnh Cấu trúc và Quá Kết quả sinh kế tổn thương trình biến đổi H Chi Tăng thu nhập Sốc Ở các cấp của ến Tăng mức sống chính quyền Xu hướng S Khu vực tư nhân lượ Chiến Giảm tình trạng N lược dễ bị tổn thương Mùa vụ c sinh kế Ảnh hưởng Cải thiện an ninh và tiếp cận sin lương thực h Tăng tính bền vững khi sử dụng P F kế nguồn tài nguyên thiên nhiên H: Nguồn vốn con người (Human capital) F: Nguồn vốn tài chính (Financial capital) N: Nguồn vốn tự nhiên (Natural capital) P: Nguồn vốn vật chất (Physical capital) S: Nguồn vốn xã hội (Social capital) Hình 2.1: Khung phân tích sinh kế bền vững Nguồn: DFID (2007) Một là, nguồn vốn hay tài sản sinh kế: Nguồn vốn sinh kế là toàn bộ năng lực vật chất và phi vật chất mà con người có thể sử dụng để duy trì hay phát triển sinh kế của họ. Nguồn vốn hay tài sản sinh kế được chia làm 5 loại vốn chính: vốn con người, vốn tài chính, vốn vật chất, vốn xã hội và vốn tự nhiên.
Vốn con người là khả năng, kỹ năng, kiến thức làm việc và sức khỏe để giúp con người theo đuổi những chiến lược sinh kế khác nhau nhằm đạt được kết quả sinh kế hay mục tiêu sinh kế của họ. Với mỗi hộ gia đình vốn nhân lực biểu hiện ở trên khía cạnh lượng và chất về lực lượng lao động ở trong gia đình đó. Vốn con người là điều kiện cần để có thể sử dụng và phát huy hiệu quả bốn loại vốn khác. Vốn tài chính là các nguồn tài chính mà người ta sử dụng nhằm đạt được các mục tiêu trong sinh kế.
Các nguồn đó bao gồm nguồn dự trữ hiện tại, dòng tiền theo TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 định kỳ và khả năng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng từ bên ngoài như từ người thân hay từ các tổ chức tín dụng khác nhau. Vốn tự nhiên là các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất, nước… mà con người có được hay có thể tiếp cận được nhằm phục vụ cho các hoạt động và mục tiêu sinh kế của họ. Nguồn vốn tự nhiên thể hiện khả năng sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên để tạo ra thu nhập phục vụ cho các mục tiêu sinh kế của họ. Đây có thể là khả năng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chất lượng cuộc sống của con người từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Nguồn vốn tự nhiên thể hiện quy mô và chất lượng đất đai, quy mô và chất lượng nguồn nước, quy mô và chất lượng các nguồn tài nguyên khoáng sản, quy mô và chất lượng tài nguyên thủy sản và nguồn không khí. Đây là những yếu tố tự nhiên mà con người có thể sử dụng để tiến hành các hoạt động sinh kế như đất, nước, khoáng sản và thủy sản hay những yếu tố tự nhiên có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của con người như không khí hay sự đa dạng sinh học. Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng cơ bản và hàng hóa vật chất nhằm hỗ trợ việc thực hiện các hoạt động sinh kế. Nguồn vốn vật chất thể hiện ở cả cấp cơ sở cộng đồng hay cấp hộ gia đình.
Trên góc độ cộng đồng, đó chính là cơ sở hạ tầng nhằm hỗ trợ cho sinh kế của cộng đồng hay cá nhân gồm hệ thống điện, đường, trường trạm, hệ thống cấp nước và vệ sinh môi trường, hệ thống tưới tiêu và hệ thống chợ. Đây là phần vốn vật chất hỗ trợ cho hoạt động sinh kế phát huy hiệu quả. Ở góc độ hộ gia đình, vốn vật chất là trang thiết bị sản xuất như máy móc, dụng cụ sản xuất, nhà xưởng hay các tài sản nhằm phục vụ nhu cầu cuộc sống hàng ngày như nhà cửa và thiết bị sinh hoạt gia đình. Vốn xã hội là một loại tài sản sinh kế, nó nằm trong các mối quan hệ xã hội hoặc các nguồn lực xã hội chính thể và phi chính thể mà qua đó người dân có thể tạo ra cơ hội và thu được lợi ích trong quá trình thực thi sinh kế.
Hai là, chiến lược sinh kế: chiến lược sinh kế không chỉ thể hiện ở trạng thái hiện tại mà còn thể hiện khả năng thay đổi trong tương lai.