Chương 1: Giới thiệu Giới thiệu tổng quan lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương này giải thích các khái niệm, thuật ngữ; giới thiệu những lý thuyết nền tảng liên quan đến nghiên cứu, trình bày tóm tắt các kết quả của các nghiên cứu trước có liên quan. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Giới thiệu đối tượng nghiên cứu, trình bày các vấn đề liên quan đến phương pháp nghiên cứu, quy trình nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và các biến trong mô hình. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Sử dụng các phần mềm Excel, SPSS, Stata để xử lý số liệu thu thập được.
Trình bày kết quả nghiên cứu thông qua việc phân tích và kiểm tra mô hình nghiên cứu trước và kết luận căn cứ theo kết quả của mô hình kiểm định. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Trình bày tóm tắt kế quả nghiên cứu được tìm ra, từ đó đưa ra một vài hàm ý chính sách. Chỉ ra những hạn chế và gợi ý nghiên cứu tiếp theo. 4 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.
Xuất khẩu Luật thương mại Việt Nam (2005), xuất khẩu hàng hoá là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Trong lý luận thương mại quốc tế xuất khẩu hay xuất cảng, là việc bàn hàng và dịch vụ cho nước ngoài, trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế theo IMF là việc bán hàng hoá cho nước ngoài. Trong tổng cầu của nền kinh tế mở (Muldell-Flemming, 1960), xuất khẩu được coi là nhu cầu từ bên ngoài. Đối với nền kinh tế mà cầu nội địa yếu, thì xuất khẩu có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế.
Chính vì thế, nhiều nước đang phát triển theo đuổi chiến lược công nghiệp hoá hướng vào xuất khẩu. Khi các nhân tố liên quan đến chi phí sản xuất hàng xuất khẩu ở trong nước không thay đổi, giá trị xuất khẩu phụ thuộc vào các yếu tố tác động từ bên ngoài vào các hàng hoá, dịch vụ được xuất khẩu. Xuất khẩu trực tiếp Là việc DN xuất khẩu các loại hàng hóa và dịch vụ do chính DN sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất trong nước và bán cho khách hàng nước ngoài thông qua các tổ chức của mình. Xuất khẩu ủy thác Đây là một loại hình kinh doanh trong đó DN xuất khẩu đóng vai trò là người trung gian thay cho đơn vị sản xuất tiến hành ký kết các hợp đồng xuất khẩu, tiến hành làm các thủ tục cần thiết để xuất khẩu cho nhà sản xuất được hưởng một số tiền nhất định gọi là phí ủy thác.
Buôn bán đối lưu Buôn bán đối lưu là một trong những phương thức giao dịch xuất khẩu trong 5 xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán hàng đồng thời là người mua, lượng trao đổi với nhau có giá trị tương đương. Trong phương thức xuất khẩu này mục tiêu là thu về một lượng hàng hóa có giá trị tương đương. Vì đặc điểm này mà phương thức này còn có tên gọi khác như xuất nhập khẩu liên kết hay hàng đổi hàng. Xuất khẩu hàng hóa theo Nghị định thư Đây là hình thức xuất khẩu hàng hóa (thường là để gán nợ) được ký kết theo nghị định thư giữa hai Chính phủ.
Đây là một trong những hình thức xuất khẩu mà doanh nghiệp tiết kiệm được các khoản chi phí trong việc nghiên cứu thị trường: tìm kiến bạn hàng, mặt khác không có sự rủi ro trong thanh toán. Xuất khẩu tại chỗ Đây là hình thức kinh doanh mới và đang phát triển rộng rãi, đặc điểm của loại hình xuất khẩu này là hàng hóa không cần vượt qua biên giới quốc gia mà khách hàng vẫn mua được. Do vậy nhà xuất khẩu không cần phải thâm nhập thị trường nước ngoài mà khách hàng tự tìm đến nhà xuất khẩu. Mặt khác DN cũng không cần phải tiến hành các thủ tục như thủ tục hải quan, mua bảo hiểm hàng hóa… do đó giảm được chi phí khá lớn.
Gia công quốc tế Là phương thức kinh doanh trong đó một bên gọi là bên nhận gia công nguyên vật liệu (hoặc bán thành phẩm của một bên khác) gọi là bên đặt gia công để tạo ra sản phẩm giao cho bên đặt gia công và nhận được tiền thù lao hay còn gọi là phí gia công. Đây là một trong những hình thức xuất khẩu đang có bước phát triển mạnh mẽ và được nhiều quốc gia chú trọng, bởi những lợi ích của nó mang lại cho các lĩnh vực sản xuất trong nước. Tạm nhập, tái xuất Là loại hình thức xuất khẩu trở ra nước ngoài những hàng hóa trước đây đã nhập khẩu, chưa qua chế biến ở nước tái xuất. Qua hợp đồng tái xuất bao gồm nhập khẩu và xuất khẩu với mục đích thu về số ngoại tệ lớn hơn số ngoại tệ đã bỏ ra ban đầu.
Thương mại quốc tế Thương mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc gia thông qua buôn bán nhằm mục đích kinh tế. Trao đổi hàng hóa là một hình thức của các mối quan hệ kinh tế xã hội và phản ánh lẫn nhau giữa những người sản xuất kinh doanh hàng hóa riêng biệt của các quốc gia. Thương mại quốc tế là lĩnh vực quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các nước tham gia vào phân công lao động quốc tế, phát triển kinh tế làm giàu cho đất nước (Krugman và ctg, 2011). Luật Thương mại Việt Nam (2005) có nêu cách hiểu về hoạt động thương mại như sau: Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác, Điều 3 khoản 1, Luật thương mại Việt Nam 2005.
Như vậy, khái niệm “thương mại” cần được hiểu là toàn bộ các hoạt động kinh doanh trên thị trường. Nếu hoạt động trao đổi hàng hóa (kinh doanh hàng hóa) vượt ra khỏi biên giới quốc gia mình thì người ta gọi đó là thương mại quốc tế (ngoại thương). Thương mại quốc tế (ngoại thương) là một ngành kinh tế thực hiện chức năng lưu thông hàng hóa giữa thị trường trong nước và thị trường nước ngoài. Nói cách khác thương mại quốc tế là sự trao đổi dưới hình thức mua bán hàng hóa và những dịch vụ kèm theo như lắp ráp, bảo hành, bảo hiểm, thanh toán quốc tế, vận tải quốc tế của một quốc gia này với một quốc gia khác hoặc một tổ chức quốc tế.
Năng suất lao động Smith (1776) cho rằng năng suất là yếu tố quyết định cho thành công của bất kỳ doanh nghiệp nào để phát triển mạnh trong quá trình cạnh tranh, đó là tối đa hóa đầu ra và tối thiểu hóa đầu của các doanh nghiệp. Năng suất còn được hiểu là số lượng đầu ra trên một đơn vị thời gian hay thời gian hao phí để sản xuất ra một sản phẩm. (2008) đưa ra khái niệm Năng suất lao động (NSLĐ) được định nghĩa là tỷ lệ giữa sản phẩm đầu ra (output) với sản phẩm đầu vào được sử dụng. NSLĐ được sử dụng như là một trong những chuẩn mực của nền kinh tế trong việc phân tích nền kinh tế của một quốc gia.
7 NSLĐ là chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động sống, đặc trưng bởi quan hệ so sánh giữa một chỉ tiêu đầu ra (kết quả sản xuất) và một chỉ tiêu đầu vào (lao động làm việc). Đây là một chỉ tiêu khá tổng hợp nói lên năng lực sản xuất của một đơn vị hay cả nền kinh tế - xã hội (Tăng Văn Khiên và ctg, 2007). Theo OECD - Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (2002) đã đưa ra cách tính năng suất dựa trên tỷ lệ giữa lượng đầu ra trên đầu vào, trong đó đầu ra được tính bằng GDP (tổng sản phẩm quốc nội) hoặc GVA (tổng giá trị gia tăng - Gross Value Added), đầu vào thường được tính bằng: giờ công lao động, lực lượng lao động và số lượng lao động đang làm việc. Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2012), chỉ tiêu hiệu quả trong sản xuất chính là năng suất lao động.
Lao động được sử dụng tốt là điều kiện để tăng năng suất lao động. Có nhiều chỉ tiêu để tính năng suất lao động. Năng suất lao động tính theo hiện vật: là dùng đơn vị hiện vật để biểu diễn năng suất lao động. Công thức tính: W = Q/T Trong đó: W: Năng suất lao động tính bằng hiện vật.
Q: Số sản phẩm sản xuất. T: Thời gian hao phí lao động để sản xuất ra sản lượng Q. Năng suất lao động tính bằng giá trị: Biểu hiện bằng tiền của tất cả các loại sản phẩm của doanh nghiệp. Công thức tính: W = Q(gt)/T Trong đó: W là Năng suất lao động tính bằng hiện vật.
Q(gt) là Sản lượng sản phẩm tính bằng giá trị. T là thời gian hao phí lao động để sản xuất ra sản lượng Q. Năng suất lao động tính bằng thời gian lao động: Sử dụng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm để biểu hiện năng suất lao động. Giảm lượng thời gian hao phí cho một sản phẩm là biểu hiện năng suất lao động tăng lên.
Công thức tính: t = T/Q Trong đó: t là lượng lao động hao phí cho một sản phẩm. 8 T là tổng thời gian hao phí. Q là sản lượng Để đo lường năng suất lao động trong nghiên cứu, đề tài chọn cách tính là sử dụng giá trị gia tăng trên lao động để tính năng suất lao động của doanh nghiệp. Các loại hình sở hữu doanh nghiệp tại Việt Nam 2.
Doanh nghiệp nhà nước DNNN là tổ chức kinh tế nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức Công ty nhà nước, Công ty Cổ phần nhà nước, Công ty TNHH Một thành viên, Công ty TNHH có từ 2 thành viên trở lên. Hiện nay các DNNN có tư cách pháp nhân do Nhà nước giao cho vốn kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về quản lý sản xuất chịu trách nhiệm về kinh tế và chịu bù đắp hay hưởng lợi nhuận với mức vốn được cấp đó, tức là nhà nước không còn bao cấp như trước đây mà các DN phải tự bù đắp những chi phí, tự trang trải mọi nguồn vốn đồng thời làm tròn nghĩa vụ với nhà nước xã hội như các DN khác.