CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Có thể nhận định rằng việc mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế đã đặt nền kinh tế Việt Nam trước những cơ hội lớn, bên cạnh đó là những thách thức cũng không hề nhỏ. Đây được xem là cơ hội to lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam trao đổi, thông thương với các thị trường lớn như Mỹ, EU, Trung Quốc, Hàn Quốc hay Nhật Bản,.Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập, đặc biệt là kể từ lúc Việt Nam gia nhập tổ chức WTO thì đã bộc lộ rõ nét hơn những điểm yếu và lỗ hổng của nền kinh tế nước ta. Vì vậy, hiện nay cần phải đòi hỏi phải có một chiến lược kinh doanh, xuất nhập khẩu thật sự hiệu quả nhằm góp phần cải thiện sự phân bổ về nguồn lực nước nhà, đồng thời nâng cao khả năng cạnh tranh và ổn định kinh tế vĩ mô. Chính điều đó càng có ý nghĩa hơn nữa trong bối cảnh nước ta.
Chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo xu hướng chất lượng và hiệu quả như đã đề ra trong Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội năm 2011-2020. Tuy nhiên, khi chúng ta hội nhập kinh tế quốc Luận văn Kinh tế tế sẽ luôn đi kèm với các rủi ro và thách thức, các doanh nghiệp trong nước sẽ phải đối mặt với một số thách thức lớn về kinh tế Một thách thức lớn mà chúng ta phải đối mặt là sức ép cạnh tranh từ hàng hóa nhập khẩu của các nước đối tác. Việc mở cửa thị trường, cắt giảm thuế sâu sẽ là cơ hội cho hàng hóa nhập khẩu tăng lên, cạnh tranh với hàng hóa trong nước vốn chất lượng chưa cao. Nếu không có sự chuẩn bị tốt, một số ngành sản xuất có thể sẽ gặp khó khăn.
Tại Việt Nam, số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng chủ yếu (trên 90%). Do đó, khi hội nhập kinh tế quốc tế càng sâu thì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nội địa với nhau hay doanh nghiệp nội địa với doanh nghiệp ngoại ngày càng gay gắt. Điều này diễn ra rõ nét trong các đơn vị sản xuất ngành nghề cao su. Sản xuất và chế biến sản phẩm cao su là một trong những ngành sản xuất nông lâm nghiệp quan trọng nhất của Việt Nam.
Tuy nhiên, diện tích cao su tiểu điền vẫn chiếm phần lớn và đây sẽ là một thách thức để cung ứng các yêu cầu, tiêu chí ngày càng tăng của thị trường về sản phẩm cao su bền vững. Theo Ông Võ Hoàng An, Tổng Thư ký Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA) cho biết, trong tháng 1/2019, Việt Nam đã xuất khẩu 175.000 tấn cao su, đạt kim ngạch 2 220 triệu USD, tăng 10,8% về giá trị và 28,9% về khối lượng so với cùng thời gian năm 2018. Điều này dự báo những tín hiệu tốt hơn cho ngành cao su Việt Nam trong năm 2019 này, nhất là việc phục hồi giá cao su xuất khẩu. Theo đó, nhu cầu cao su trên toàn thế giới ước sẽ tăng 4,2% (lên 14,59 triệu tấn)/2019, trong khi tổng sản lượng được dự báo là 14,84 triệu tấn.
Ngành cao su trong nước sẽ được hưởng lợi từ đây và cả việc giá cao su có thể sẽ lên cao. Hiện tại Trung Quốc đang là thị trường tiêu thụ cao su lớn trên thế giới (chiếm 40% thị phần). Ngoài ra, từ năm 2019, nguồn cung cao su từ các nước sản xuất lớn có dấu hiệu sụt giảm do yếu tố mùa vụ. Mặt khác, ngay từ đầu năm 2019, 3 quốc gia sản xuất cao su lớn tại khu vực ASEAN là Thái Lan, Indonesia và Malaysia (chiếm khoảng 70% sản lượng cao su thiên nhiên thế giới) đã đưa ra kế hoạch giảm số lượng cao su xuất khẩu để đẩy giá tăng hơn.
Theo đó, các nước này dự kiến sẽ giảm khoảng 300.000 tấn cao su xuất khẩu trong năm 2019 này. Đối với Việt Nam, dù trong tháng 2/2019, giá xuất khẩu vẫn thấp hơn 13,1% so Luận văn Kinh tế với cùng kỳ năm 2018 (đạt bình quân 1.271,3 USD/tấn), song các thông tin về thị trường cao su thế giới đã góp phần đẩy giá cao su thu mua trong nước tăng nhẹ. Cụ thể tại huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước giá thu mua cao su tại các đại lý từ 3.200 đồng/kg cao su các loại (tăng nhẹ 1. Số tiền tuy không nhiều nhưng đây là tín hiệu đáng mừng cho người trồng cao su sau 3 năm rớt giá vừa qua.
Bên cạnh một số vấn đề về nguồn vốn, chính sách và công nghệ thì vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố then chốt để các doanh nghiệp Việt Nam tăng tính cạnh tranh. Một tổ chức có thể có công nghệ hiện đại, nguồi tài chính tốt, cơ sở hạ tầng vững chãi nhưng nếu thiếu nguồn lao động làm việc có hiệu quả thì tổ chức đó khó có thể tồn tại lâu dài và tạo dựng được lợi thế cạnh tranh. Thật vậy, một doanh nghiệp thành công là doanh nghiệp phải được hình thành từ những kết quả làm việc hiệu quả hàng ngày của mỗi người lao động. Chính vì thế, việc nghiên cứu chi tiết để làm rõ các yếu tố nào của hành vi thực hiện tác động đến kết quả làm việc của người lao động luôn là mối quan tâm của các nhà quản lý trong lĩnh vực cao su.
3 Trên thế giới, khái niệm về hành vi công dân trong tổ chức (OCB) là một trong những khía cạnh của hành vi hợp tác trong tổ chức được giới chuyên môn và các nhà quản trị tập trung nghiên cứu. Các kết quả đã chỉ ra rằng, những nhân viên cam kết làm việc lâu dài với tổ chức thì nhiều khả năng họ sẽ đi làm đều đặn hơn (Hackett, 1989), gắn bó với tổ chức (Tett & Meyer, 1993), đi làm đúng thời gian (Koslowsky, Sagie, Krausz & Singer, 1997), thực hiện tốt công việc (Judge, Thoresen, Bono & Patton, 2001), thực hiện những hoạt động có ích cho tổ chức (LePine, Erez & Johnson, 2002) và hành xử có đạo đức (Kish-Gephart, Harrison & Trevino, 2010) hơn những nhân viên không cam kết gắn bó với tổ chức. Các hành vi đó được gọi là hành vi công dân trong tổ chức. Tuy nhiên, tại Việt Nam đây là một khái niệm mới và có rất ít các nghiên cứu liên quan đến hành vi công dân trong tổ chức.
Hiện nay, tôi đang công tác tại Công ty TNHH MTV Cao su Bình Long, là đơn vị trồng cây cao su, khai thác, chế biến, buôn bán mủ cao su và các dịch vụ cho việc phát triển cao su. Đồng thời, liên doanh sản xuất từ mủ cao su và các loại Luận văn Kinh tế nguyên liệu gỗ khác. Cùng với sự phát triển công nghiệp, nông nghiệp trong cả nước tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của công ty. Song song đó là sự cạnh tranh gay gắt từ các Công ty cùng lĩnh vực.
Để tạo được sự khác biệt giúp Công ty phát triển hiệu quả và bền vững chính là tạo được niềm tin đối với khách hàng. Hiện nay, Công ty sản xuất các loại sản phẩm như: Mủ Ly tâm, mủ tờ RSS, SVR-CV50; SVR-CV60; SVR5; SVR5S, SVR10; SVR20, SVR3L. Đặc biệt, đối với công tác triển khai thực hiện chặt chẽ có đồng bộ Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001-2015, Hệ thống quản lý môi trường ISO 14001:2015 nên chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn TCVN: 3769-2016, luôn được khách hàng tin tưởng và sử dụng, đủ điều kiện cạnh tranh trên các thị trường trong và ngoài nước hiện nay. Thông qua nghiên cứu về OCB, tôi nhận thấy đây thực sự là một vấn đề hay và lý thú, đặc biệt về mặt lý luận và thực tiễn.
Đồng thời, có thể đưa ra các giải pháp hữu ích giúp cho Công ty nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt khi trình độ người lao động trực tiếp của Công ty hiện nay có trình độ, ý thức và kinh nghiệm làm việc chưa cao và không đồng đều. Việc tìm hiểu Hành vi công dân trong tổ 4 chức rất cần thiết đối với các nhà quản lý nói chung và quản lý nhân sự nói riêng. Bởi lẽ, OCB giúp cho các nhà quản lý của Công ty có được cách nhìn đầy đủ và toàn diện về người lao động để có thể đưa ra được những chính sách, biện pháp phù hợp nhằm khuyến khích đổi mới sáng tạo và tạo động lực cho người lao động. Đây là cơ sở quan trọng nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả của kết quả làm việc của người lao động.
Giúp tối ưu hiệu quả về công tác quản lý, phát huy vai trò con người trong tổ chức, khai thác một cách tối ưu nguồn nhân lực, phát huy tính sáng tạo của Người lao động. Có vai trò quan trọng trong đảm bảo sự cân bằng, tin tưởng và gắn kết người lao động với tổ chức. Đây chính là lý do hình thành đề tài “Ảnh hưởng của hành vi công dân trong tổ chức (OCB) tới kết quả làm việc của người lao động tại Công ty TNHH MTV MTV Cao su Bình Long”.2 Giới thiệu sơ lược về Công ty TNHH MTV Cao su Bình Long Được thành lập vào năm 1975 với tên Quốc doanh cao su Quản Lợi. Vào đầu năm 1981, đổi tên thành Công ty cao su Bình Long trực thuộc Tổng cục Cao su Việt Nam (hiện nay là Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam).
Ngày 21/6/2010, Chủ Luận văn Kinh tế tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam ra Quyết định số 176/QĐ-HĐQTCSVN, chuyển Công ty cao su Bình Long thuộc Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam thành Công ty TNHH MTV cao su Bình Long. Từ tháng 7/2010, Cao Su Bình Long đã làm lễ ra mắt hoạt động theo mô hình Công ty TNHH MTV do nhà nước quản lý.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức và quản lý của Công ty 5 Công ty hiện có 14,677.41 hecta cao su, trong đó có 10,066.48 hecta là diện tích đang khai thác, 3,653.96 là diện tích vườn cây kiến thiết cơ bản và 826.48 hecta đang được tái canh trồng mới. Vườn cây cao su của công ty trải trên các địa bàn của thị xã Bình Long, huyện Hớn Quản, huyện Chơn Thành, thuộc tỉnh Bình Phước. Hiện nay ngoài mủ cao su từ vườn của công ty, công ty còn chuyên thu mua mủ cao su tiểu điền ở khu vực xung quanh để gia tăng sản xuất và xuất khẩu.
Các mặt hàng cao su sơ chế hiện nay công ty đang sản xuất bao gồm mủ cao su SVR 3L, SVR 5, SVR 10, Latex HA, Latex LA, mủ tạp. Cao su được xuất kho theo từng bành nặng 33.33kg hoặc 35kg, đóng gói bằng pallet shrinkwrap đế gỗ, pallet gỗ hoặc hàng rời và marking trên pallet tùy theo yêu cầu của khách hàng. Luận văn Kinh tế Hình 1.