Tác động sở hữu nước ngoài đến rủi ro thanh khoản NHTM Việt Nam | Luận văn ThS Trương Thị Mỹ Linh
Luận văn thạc sĩ kinh tế phân tích tác động của sở hữu nước ngoài đến rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại việt nam, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải
Trường đại học
Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí MinhChuyên ngành
Tài chính – Ngân hàngTác giả
Ẩn danhNgười đăng
Ẩn danhThể loại
Luận văn Thạc sĩ Kinh tếPhí lưu trữ
30 PointMục lục chi tiết
Tóm tắt
I. Tổng Quan Về Tác Động Của Sở Hữu Nước Ngoài Đến Rủi Ro Thanh Khoản
Tiến trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, sự gia tăng hiện diện của các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam là xu thế tất yếu. Các ngân hàng nước ngoài tìm kiếm cơ hội khai thác thị trường tiềm năng, đồng thời làm tăng mức độ cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng. Điều này thúc đẩy các ngân hàng trong nước nâng cao chất lượng tín dụng, đa dạng hóa sản phẩm, phát triển nguồn lực và ứng dụng công nghệ. Mở rộng quy mô và tăng vốn điều lệ là mục tiêu cấp bách để đáp ứng chuẩn mực Basel. Các ngân hàng thương mại Việt Nam (NHTM VN) tìm kiếm nguồn tài trợ từ cả nhà đầu tư trong nước và cổ đông chiến lược nước ngoài.
Thực tế cho thấy nhiều NHTM VN đã thu hút được lượng vốn đáng kể từ nhà đầu tư nước ngoài. Các ngân hàng có tỷ lệ vốn đầu tư nước ngoài lớn có cơ hội tiếp cận vốn, công nghệ, kinh nghiệm tổ chức, điều hành và quản lý từ các NHTM quốc tế uy tín. Chuyên gia nước ngoài tham gia vào bộ máy quản trị điều hành giúp chuyển giao công nghệ, kỹ năng và trình độ quản lý. Tuy nhiên, ở các ngân hàng có tỷ lệ sở hữu nước ngoài khiêm tốn, vai trò của cổ đông nước ngoài chưa được đánh giá rõ ràng. Vấn đề sở hữu nước ngoài trong các NHTM đã được quan tâm và bàn luận sôi nổi, đặc biệt là quy định giới hạn sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài. Theo quy định hiện hành, tỷ lệ sở hữu của một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài không được vượt quá 20% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng Việt Nam. Tổng tỷ lệ sở hữu của tất cả các nhà đầu tư nước ngoài không được vượt quá 30%. Các nhà đầu tư nước ngoài và chuyên gia cho rằng giới hạn này còn thấp và thị trường đầu tư chưa thực sự hấp dẫn. Nhiều ý kiến cho rằng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các tổ chức tín dụng của Việt Nam sẽ được tăng lên trong thời gian tới để thu hút thêm vốn.
1.1. Tổng Quan Về Tác Động FDI Đến Thanh Khoản Ngân Hàng
Tỷ lệ sở hữu nước ngoài có thể tác động đến rủi ro thanh khoản, một trong những rủi ro lớn tại các NHTM. Một số ý kiến cho rằng sở hữu nước ngoài có tác động tích cực, trong khi ý kiến khác lại cho rằng nó làm tăng rủi ro thanh khoản. Rủi ro thanh khoản là một trong những rủi ro đặc thù của hoạt động kinh doanh ngân hàng. Tính liên kết hệ thống chặt chẽ khiến một ngân hàng gặp rủi ro thanh khoản có thể ảnh hưởng đến các ngân hàng khác và đe dọa sự an toàn của toàn bộ hệ thống. Đánh giá được tầm quan trọng trong kiểm soát rủi ro thanh khoản, vấn đề sở hữu nước ngoài càng được quan tâm. Các tác động tích cực và không tích cực đều được xem xét kỹ lưỡng. Nghiên cứu "Tác động của Sở Hữu Nước Ngoài đến Rủi Ro Thanh Khoản tại các Ngân hàng Thương Mại Việt Nam" được thực hiện để xem xét tác động này. Mô hình nghiên cứu được xây dựng để xem xét tác động của sở hữu nước ngoài đối với rủi ro thanh khoản của các NHTM Việt Nam. Kết quả nghiên cứu bằng chứng thực nghiệm cung cấp cái nhìn rõ ràng hơn về vai trò của cổ đông nước ngoài đối với rủi ro thanh khoản tại các NHTM Việt Nam. Từ đó, tác giả đề xuất một số gợi ý chính sách góp phần nâng cao công tác quản trị rủi ro thanh khoản tại các NHTM nói riêng và đảm bảo sự vững mạnh của hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung.
1.2. Thực Trạng Sở Hữu Nước Ngoài Và Rủi Ro Thanh Khoản Hiện Nay
Hiện nay, vấn đề sở hữu nước ngoài trong các NHTM đang được quan tâm và bàn luận sôi nổi. Trong đó, vấn đề quy định giới hạn sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài ở các NHTM là một trong những nội dung được thảo luận nhiều nhất. Theo quy định hiện hành, Nghị định số 01/2014/NĐ-CP quy định tỷ lệ sở hữu cổ phần của một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài không được vượt quá 20% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng Việt Nam. Tổng tỷ lệ sở hữu cổ phần của tất cả các nhà đầu tư nước ngoài tại một tổ chức tín dụng trong nước không được vượt quá 30%. Với quy định hiện tại, đã có nhiều NHTM đã chạm mức trần quy định về tỷ lệ sở hữu của khối ngoại. Các nhà đầu tư nước ngoài và một số chuyên gia đều đồng tình rằng giới hạn này còn thấp nên thị trường đầu tư chưa thật sự hấp dẫn. Từ đó có nhiều ý kiến cho rằng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các tổ chức tín dụng của Việt Nam sẽ được tăng lên trong thời gian tới như một sự tất yếu trong điều kiện hội nhập kinh tế để thu hút được nhiều nguồn vốn hơn.
II. Phân Tích Ảnh Hưởng Của Vốn Nước Ngoài Đến Thanh Khoản NHTM VN
Việc tăng tỷ lệ sở hữu nước ngoài đối với ngành ngân hàng cũng đang được cân nhắc và nghiên cứu một cách cẩn trọng hơn, bởi có những ý kiến cho rằng sở hữu nước ngoài có tác động tích cực đến rủi ro thanh khoản – một trong những rủi ro lớn và chủ yếu tại các NHTM trong khi lại có những ý kiến ngược lại, rằng sở hữu nước ngoài làm rủi ro thanh khoản tại các NHTM tăng lên. Rủi ro thanh khoản là một trong những rủi ro đặc thù của hoạt động kinh doanh ngân hàng, bên cạnh những loại rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động… Xuất phát từ tính liên kết hệ thống một cách chặt chẽ, một ngân hàng gặp rủi ro thanh khoản sẽ ảnh hưởng tới hoạt động bình thường của các ngân hàng khác, và rộng hơn là đe dọa đến sự an toàn trong hoạt động của tòa bộ hệ thống ngân hàng. Đánh giá được tầm quan trọng trong kiểm soát rủi ro thanh khoản, vấn đề sở hữu nước ngoài đang được quan tâm lại càng được quan tâm hơn, đánh giá nhiều hơn ở nhiều phương diện khác nhau, không chỉ các tác động về mặt tích cực mà còn ở những tác động không tích cực. Vì vậy, tác giả luận văn lựa chọn đề tài “Tác động của sở hữu nước ngoài đến rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” để nghiên cứu, luận văn xây dựng mô hình xem xét tác động của sở hữu nước ngoài đối với rủi ro thanh khoản của các NHTM Việt Nam. Kết quả nghiên cứu bằng chứng thực nghiệm cho chúng ta thấy rõ ràng hơn về vai trò của cổ đông nước ngoài đối với rủi ro thanh khoản tại các NHTM Việt Nam.
2.1. Rủi Ro Thanh Khoản Khái Niệm Nguyên Nhân và Đo Lường Chi Tiết
Một cách tổng quan, rủi ro thanh khoản là rủi ro mà ngân hàng thiếu khả năng thanh toán, do không có khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền, hoặc không có khả năng huy động, vay mượn để đáp ứng các hợp đồng đã cam kết trước đó (Trương Quang Thông, 2010). Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản bao gồm: Ngân hàng thiếu ngân quỹ để đáp ứng các nhu cầu chi trả cho những người gửi tiền, hoặc thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn mà ngân hàng đã vay. Hai dạng trái chủ chính ở đây là công chúng và các NHTM khác, nơi mà ngân hàng có thể vay mượn những khoản nợ ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng. Rủi ro thanh khoản càng cao khi các trái chủ muốn rút vốn ngay lập tức. Khi đó, ngân hàng phải tìm cách huy động các nguồn vốn bổ sung, hoặc tìm cách bán hay chuyển các tài sản thanh tiền mặt.
2.2. Phương Pháp Đo Lường Rủi Ro Thanh Khoản Hiệu Quả Nhất Hiện Nay
Để đo lường rủi ro thanh khoản, người ta thường sử dụng Khe hở tài trợ, Khe hở tài trợ = Tổng dƣ nợ tín dụng trung bình – Tổng nguồn vốn huy động trung bình. Khe hở tài trợ thể hiện dấu hiệu cảnh báo về rủi ro thanh khoản trong tương lai của ngân hàng. Nếu khe hở tài trợ dương và ngân hàng có khe hở tài trợ lớn, tức là khi đó Tổng dư nợ tín dụng cao hơn nhiều so với tổng nguồn vốn ngân hàng huy động được, khi đó buộc ngân hàng phải giảm tiền mặt dự trữ và giảm các tài sản thanh khoản hoặc đi vay bổ sung trên thị trường tiền tệ, dẫn đến rủi ro thanh khoản cao. Phương pháp khe hở tài trợ được đánh giá là phương pháp thích hợp nhất trong phân tích định lượng, chỉ số khe hở tài trợ phản ảnh được cơ bản nhất về khả năng thanh khoản của ngân hàng.
2.3. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Rủi Ro Thanh Khoản Phân Tích Toàn Diện
Các yếu tố tác động đến rủi ro thanh khoản tại các NHTM được phân loại thành các yếu tố bên trong như mức độ sở hữu nước ngoài, rủi ro tín dụng, quy mô tài sản, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, hệ số tự tài trợ và các yếu tố khác bên ngoài như tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát.
III. Cách Sở Hữu Nước Ngoài Tác Động Đến Rủi Ro Thanh Khoản NHTM
Theo Bonin và cộng sự (2004) sở hữu nước ngoài có tác động tích cực đến quản trị rủi ro thanh khoản tại NHTM thông qua: thứ nhất, cổ đông chiến lược nước ngoài chỉ lựa chọn đầu tư vào các ngân hàng an toàn có rủi ro thanh khoản thấp và triển vọng mang lại lợi nhuận cao cho danh mục đầu tư của họ; thứ hai, sự tham gia của cổ đông chiến lược nước ngoài vào ngân hàng giúp cải thiện khả năng quản trị ngân hàng trong đó có quản trị rủi ro thanh khoản; thứ ba, khi một cổ đông chiến lược nước ngoài tham gia đầu tư sở hữu vốn vào ngân hàng sẽ tạo một tín hiệu tích cực nâng cao vị thế uy tín của ngân hàng đó qua đó giảm thiểu rủi ro thanh khoản cho ngân hàng.
3.1. Mức Độ Sở Hữu Nước Ngoài Ảnh Hưởng Đến Rủi Ro Tín Dụng Ra Sao
Mức độ sở hữu nước ngoài thông thường được tính bằng tỷ lệ cổ phần của cổ đông nước ngoài trên tổng số cổ phần phát hành của NHTM. Rủi ro tín dụng là rủi ro ngân hàng thường xuyên gặp phải. Biểu hiện của rủi ro tín dụng là các khoản vay của ngân hàng giảm giá trị không phục hồi được (Sử Đình Thành, Vũ Thị Minh Hằng, 2008). Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh do khách hàng vay không thực hiện đúng các điều khoản của hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi vay, gây ra những tổn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của NHTM.
3.2. Quy Mô Tổng Tài Sản Của NHTM Có Liên Quan Gì Đến Thanh Khoản
Một số nghiên cứu thực nghiệm đưa ra kết quả rằng rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản có mối quan hệ ngược chiều. Điều này được giải thích rằng khi các NHTM chủ yếu tập trung vào hoạt động cho vay sẽ tồn tại một tỷ lệ nợ xấu cao, rủi ro tín dụng tăng lên, khi rủi ro tín dụng tăng các NHTM phải tăng trích lập dự phòng rủi ro và lợi nhuận tạo ra của ngân hàng sẽ bị giảm xuống. Để bù đắp cho sự sụt giảm lợi nhuận, các ngân hàng có xu hướng giảm bớt tài sản thanh khoản và cho vay nhiều hơn, làm cho rủi ro thanh khoản của ngân hàng sẽ tăng lên. Từ các nghiên cứu trước và lý thuyết kinh tế quy mô, ngân hàng có quy mô càng lớn thể hiện vị thế thanh khoản của ngân hàng càng cao thì sẽ ít gặp rủi ro thanh khoản.
3.3. Tỷ Suất Lợi Nhuận ROE Và Hệ Số Tự Tài Trợ Ảnh Hưởng Thanh Khoản
Dựa trên lý thuyết “Chi phí phá sản kỳ vọng” (Expected bankruptcy costs) của Berger (1995), một ngân hàng có lợi nhuận thấp sẽ ưu tiên đẩy mạnh cho vay hòng khôi phục lại lợi nhuận, do đó có thể sẽ làm suy giảm tỷ trọng tài sản thanh khoản dẫn đến khả năng thanh khoản kém đi. Ngược lại, một ngân hàng có lợi nhuận cao sẽ có xu hướng hạn chế tăng trưởng tín dụng quá nóng để giảm bớt rủi ro vỡ nợ cho ngân hàng và tăng cường đầu tư vào tài sản thanh khoản nhiều hơn. Hệ số tự tài trợ là chỉ tiêu phản ảnh khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính và mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này cho biết trong tổng nguồn vốn tài trợ tài sản doanh nghiệp, nguồn vốn chủ sở hữu chiếm bao nhiêu. Hệ số tài trợ được xác định bằng cách lấy vốn chủ sở hữu chia cho tổng tài sản.
IV. Vai Trò Ngân Hàng Nhà Nước VN Trong Quản Trị Rủi Ro Thanh Khoản
Để quản trị rủi ro thanh khoản, vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) vô cùng quan trọng. NHNN có thể sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ như điều chỉnh lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc để tác động đến thanh khoản của các NHTM. Ngoài ra, NHNN còn đóng vai trò là người cho vay cuối cùng, sẵn sàng cung cấp thanh khoản cho các ngân hàng gặp khó khăn. NHNN cũng cần có những quy định và giám sát chặt chẽ về quản trị rủi ro thanh khoản đối với các NHTM, đảm bảo hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn và hiệu quả.
4.1. Tốc Độ Tăng Trưởng GDP Và Tỷ Lệ Lạm Phát Tác Động Thế Nào
Dựa trên cơ sở của lý thuyết “Tiền nội sinh” (Endogenous Money) của Keynes cho rằng khi nền kinh tế tăng trưởng, thu nhập của các doanh nghiệp và dân cư có xu hướng tăng lên khiến cho việc chi tiêu của họ chủ yếu dựa vào nguồn tài chính tự có hơn là các khoản nợ vay bên ngoài. Theo đó, hoạt động cho vay tại các ngân hàng sẽ cho vay ít hơn nên dự trữ sẽ có xu hướng gia tăng. Còn khi nền kinh tế suy thoái, việc gia tăng tín dụng ngân hàng chỉ xảy ra khi thu nhập của các doanh nghiệp và dân cư có dấu hiệu suy giảm. Tỷ lệ lạm phát của một quốc gia được cho là có tác động cùng chiều đến thanh khoản của các NHTM.
4.2. Chính Sách Tiền Tệ Của NHNN Ảnh Hưởng Đến Thanh Khoản NHTM
Chính sách tiền tệ của NHNN đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết thanh khoản của hệ thống ngân hàng. Các công cụ như lãi suất tái cấp vốn, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở có thể được sử dụng để kiểm soát lượng tiền cung ứng và điều chỉnh thanh khoản của các NHTM. Mục tiêu là duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững. Tuy nhiên, việc điều hành chính sách tiền tệ cần linh hoạt và phù hợp với tình hình kinh tế vĩ mô và diễn biến thị trường để tránh gây ra những tác động tiêu cực.
V. Phân Tích Thực Nghiệm Về Tác Động Của Sở Hữu Nước Ngoài Đến Thanh Khoản
Để phân tích thực nghiệm tác động của sở hữu nước ngoài đến rủi ro thanh khoản tại các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2008-2017, việc lựa chọn và đưa các biến vào trong mô hình nghiên cứu của luận văn được thực hiện dựa trên 2 tiêu chí sau đây: thứ nhất, các yếu tố đưa vào mô hình nghiên cứu phải gắn liền với các lý thuyết kinh tế và lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm trước đây có liên quan đến đề tài; thứ hai, dữ liệu của các yếu tố đại diện cho mô hình có thể thu thập được tương đối đầy đủ và đáng tin cậy.
5.1. Mô Hình Nghiên Cứu Dạng Bảng Tĩnh Và Dạng Bảng Động
Mô hình 1: Tác động của sở hữu nƣớc ngoài đến rủi ro thanh khoản tại các NHTM dạng bảng tĩnh: LIRit = β1 + β2FOit + β3CRit + β4SIZEit + β5ROEit + β6EAit+ β7GDPt + β8INFt + αi + uit. Mô hình 2: Tác động của sở hữu nƣớc ngoài đến rủi ro thanh khoản tại các NHTM dạng bảng động: LIRit = β1 + β2LIRit-1 + β3FOit + β4CRit + β5SIZEit + β6ROEit + β7EAit + β8GDPt + β9INFt + αi + uit. Trong đó, LIRit là biến phụ thuộc đại diện cho rủi ro thanh khoản của NHTM.
5.2. Thống Kê Mô Tả và Ma Trận Hệ Số Tương Quan Các Biến Nghiên Cứu
Để thực hiện nghiên cứu phân tích định lượng nhằm giải quyết các mục tiêu nghiên cứu, luận văn tiến hành thu thập bộ dữ liệu của 31 NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 2008-2017 được thu thập từ nguồn Bankscope, dữ liệu về các yếu tố kinh tế vĩ mô được tác giả thu thập từ Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và báo cáo thường niên của Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Để có cái nhìn rõ hơn về đặc điểm bộ dữ liệu mẫu nghiên cứu, luận văn thực hiện thống kê mô tả đặc trưng của từng biến số trong mô hình bao gồm: giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất và giá trị lớn nhất của các biến. Kết quả bảng ma trận hệ số tương quan cho thấy dấu của hệ số tương quan giữa mức độ sở hữu nước ngoài, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, hệ số tự tài trợ và lạm phát với rủi ro thanh khoản của NHTM trong mô hình là phù hợp với kỳ vọng, còn lại các biến rủi ro tín dụng, quy mô tổng tài sản lại mang dấu dương trong khi kỳ vọng là mang dấu âm.
VI. Kết Luận Giải Pháp Nâng Cao Quản Trị Rủi Ro Thanh Khoản NHTM VN
Dựa trên kết quả phân tích và đánh giá tác động của sở hữu nước ngoài đến rủi ro thanh khoản tại các NHTM Việt Nam, có thể đưa ra một số kết luận và giải pháp sau: Nới lỏng quy định về tỷ lệ sở hữu nước ngoài, các cơ quan quản lý cần xem xét nới lỏng quy định về tỷ lệ sở hữu nước ngoài tại các NHTM để thu hút thêm vốn đầu tư và nâng cao năng lực quản trị. Tuy nhiên, cần đảm bảo việc nới lỏng này đi kèm với các biện pháp kiểm soát rủi ro chặt chẽ để tránh các tác động tiêu cực đến hệ thống ngân hàng. Tăng cường năng lực quản trị rủi ro cho các NHTM, tăng cường đào tạo và phát triển nguồn nhân lực quản lý rủi ro tại các NHTM, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý rủi ro thanh khoản.
6.1. Hàm Ý Chính Sách Cho Từng Nhóm Ngân Hàng Cụ Thể
Luận văn đưa ra một số quan điểm, hàm ý chính sách để định hướng giải quyết vấn đề tỷ lệ sở hữu nước ngoài đối với từng đối tượng nhóm ngân hàng cụ thể, hàm ý chính sách trong việc giải quyết các vấn đề khác tác động đến rủi ro thanh khoản từ đó tăng sức cạnh tranh, khả năng thanh khoản của các NHTM trong nước sau khi cho thấy tác động của sở hữu nước ngoài đến rủi ro thanh khoản của các NHTM Việt Nam.
6.2. Cân Nhắc Nới Rộng Quy Định Sở Hữu Nước Ngoài Tại Các NHTM
Để đạt được những mục tiêu xa hơn về ổn định hệ thống ngân hàng, an toàn vốn, tăng trưởng và mở rộng quy mô cần cân nhắc một mức sở hữu vốn nước ngoài hợp lý, có cái nhìn sâu sắc, cân nhắc hơn về vấn đề nới rộng quy định sở hữu nước ngoài tại các NHTM Việt Nam trong thời gian tới.
Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.