Chương 1: Giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài Chương 3: Phương pháp nghiên cứu được sử dụng để nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận, hướng phát triển của đề tài TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƯƠNG 2:TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Các khái niệm liên quan 2.1 Tăng trưởng kinh tế Khái niệm về tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định. Phương pháp đo lường tăng trưởng kinh tế Để đo lường tăng trưởng kinh tế, người ta thường sử dụng các thước đo sau: Mức tăng trưởng tuyệt đối: là mức chênh lệch quy mô kinh tế giữa hai kỳ cần so sánh. ΔY = YT – YT-1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy mô kinh tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế kỳ trước. Tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %.
Biểu diễn bằng toán học, sẽ có công thức: y = dY/Y × 100(%) Trong đó Y là qui mô của nền kinh tế, và y là tốc độ tăng trưởng. Nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) danh nghĩa, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hoặc GNP) danh nghĩa. Còn nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) thực tế, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hay GNP) thực tế. Thông thường, tăng trưởng kinh tế TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 dùng chỉ tiêu thực tế hơn là các chỉ tiêu danh nghĩa.
Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng kinh tế thể hiện gần đúng nhất mức độ cải thiện đời sống của người dân. Do đó, để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể sử dụng GDP bình quân đầu người để tính toán. Lý thuyết tăng trưởng kinh tế Như ta đã biết, lý thuyết về tăng trưởng kinh tế rất phong phú, có nhiều trường phái khác nhau. Có thể kể đến như: Mô hình cổ điển Các nhà học thuyết tiêu biểu của mô hình tăng trưởng kinh tế Cổ điển: Wiliam Petty, Adam Smith, David Ricardo… Quan điểm chung về mô hình: 3 nguồn lực cơ bản để tăng trưởng phát triển kinh tế là đất đai, lao động, vốn.
Trong các yếu tố đó thì đất đai là yếu tố quan trọng nhất. Các nhà kinh tế học cổ điển cho rằng cơ chế thị trường có khả năng giải quyết tốt mọi vấn đề của nền kinh tế, từ việc nghiên cứu các nguồn lực, các nhà kinh tế cổ điển khuyến nghị về chính sách: để mở rộng giới hạn tăng trưởng kinh tế, chính phủ phải đẩy mạnh nhập khẩu lương thực. Nhưng nếu quốc gia nào cũng nhập khẩu lương thực thì tăng trưởng kinh tế sẽ không thực hiện được. Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của kinh tế học vĩ mô Keynes Xuất hiện sau khi chủ nghĩa tư bản lâm vào đại khủng hoảng kinh tế.
Nội dung của lý thuyết tăng trưởng kinh tế này bao gồm: Nền kinh tế thị trường có khả năng tự điều chỉnh, xác lập cân bằng, tạo việc làm đầy đủ; Tiêu dùng có vai trò rất quan trọng trong việc xác định sản lượng; Để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng cần có sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế; TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Sự can thiệp của Nhà nước thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bằng việc tăng cầu có hiệu quả, kích thích tiêu dùng, sản xuất, kích thích đầu tư; Ngân sách Nhà nước là công cụ quan trọng để kích thích đầu tư tư nhân; Tài chính tín dụng và lưu thông tiền tệ là công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng mà Nhà nước có thể sử dụng để tác động vào nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng. Mô hình tăng trưởng tân cổ điển của Robert Solow (1956) Vào cuối thế kỉ 19, cùng với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ , trường phái kinh tế tân cổ điển ra đời. Bên cạnh một số quan điểm về tăng trưởng kinh tế tương đồng cùng trường phái cổ điển như sự tự điều tiết của bàn tay vô hình, mô hình này có các quan điểm mới sau: Đối với các nguồn lực về tăng trưởng kinh tế, mô hình nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của vốn. Từ đó họ đưa ra hai khái niệm: Phát triển kinh tế theo chiều sâu: tăng trưởng dựa vào sự gia tăng số lượng vốn cho một đơn vị lao động Phát triển kinh tế theo chiều rộng: tăng trưởng dựa vào sự gia tăng vốn tương ứng với sự gia tăng lao động Để chỉ quan hệ giữa gia tăng sản phẩm và tăng đầu vào, họ sử dụng hàm sản xuất Cobb Douglass Y=F(k,l,,t).
Sau khi biến đổi, Cobb-Douglass thiết lập mối quan hệ theo tốc độ tăng trưởng các biến số: g=t+ak+bl Trong đó: G: tốc độ tăng trưởng GDP. K,l,: tốc độ tăng của các yếu tố đầu vào: vốn, lao động. T phần dư còn lại, phản ánh tác động khoa học kỹ thuật. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Mô hình tăng trưởng nội sinh của Romer Trong các mô hình tăng trưởng trình bày ở trên, yếu tố lao động hay rộng hơn là yếu tố con người và tiến bộ công nghệ được xem là ngoại sinh.
Tuy nhiên, nhiều nhà kinh tế lại cho rằng các yếu tố này trong thực tế có thể là nội sinh. Các mô hình tăng trưởng nội sinh có thể kể đến bao gồm: Mô hình học hỏi (Learning-by-doing model) của Kenneth J.Arrow (1962) Mô hình R&D (Research and Development Model) Mô hình Mankiw-Romer-Weil Mô hình AK Mô hình “ Học hay làm” (Learning-or-doing model) Mặc dù các mô hình tăng trưởng nội sinh vẫn đề cao vai trò của tiết kiệm đối với tăng trưởng của nền kinh tế, nhưng các kết luận của mô hình này có nhiều điểm trái ngược với mô hình của Solow. Đặc biệt là ở chỗ mô hình này cho thấy không có xu hướng các nước nghèo (ít vốn) có thể đuổi kịp các nước giàu về mức thu nhập bình quân, cho dù có cùng tỷ lệ tiết kiệm. Nguyên nhân bắt nguồn từ sự chênh lệch không chỉ là vốn vật chất, mà quan trọng hơn là vốn con người.
Bởi vì tốc độ tăng trưởng là nội sinh, mô hình chỉ ra một con đường thoát khỏi nghèo đói: một nước đầu tư nhiều vào nguồn nhân lực hơn sẽ có tốc độ tăng trưởng cao hơn.2 Khu vực kinh tế phi chính thức 2.1 Khái niệm về khu vực kinh tế phi chính thức Khu vực kinh tế phi chính thức tồn tại như một tất yếu khách quan, luôn luôn chịu sự tác động của các qui luật kinh tế, của chính sách phát triển kinh tế - xã hội cũng như hiệu lực của hệ thống pháp luật ở mức độ khác nhau tùy thuộc vào mỗi nước. Khu vực này đã trở thành bộ phận cấu thành của nền kinh tế của tất cả các nước trên thế giới, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 đặc biệt đối với các nước đang phát triển. Cho đến nay vẫn chưa có một tên gọi cũng như chưa có một khái niệm thống nhất về khu vực kinh tế phi chính thức. Do một định nghĩa ngắn gọn không thể diễn đạt hết được tính chất, đặc điểm của khu vực này, nên các nhà kinh tế và tổ chức quốc tế thường chỉ nêu lên đặc điểm chính để nhận dạng và qua đó giải thích cho tên gọi và khái niệm mà họ đưa ra.
Ngày nay trên thế giới đang phổ biến một số tên gọi như: khu vực phi chính qui (Informal sector); kinh tế bóng đen (Shadow economy); kinh tế chìm (Underground economy); kinh tế không được giám sát (Non-observed economy; unobserved economy) v. Dù tên gọi được dùng khác nhau, chung quy lại các khái niệm trên đều phản ánh bản chất các hoạt động kinh tế của một khu vực trái ngược với khu vực kinh tế chính thống và nó là một bộ phận rất quan trọng của nền kinh tế của mỗi quốc gia. Trong khuôn khổ bài viết này tác giả gọi là khu vực kinh tế phi chính thức. Thuật ngữ “Khu vực kinh tế phi chính thức” đầu tiên do Hart (1973) đề xuất để mô tả một khu vực kinh tế truyền thống ở các nền kinh tế đang phát triển.
Nguyên gốc, sự phân biệt giữa khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức là dựa trên sự phân biệt giữa lao động được trả lương và lao động tự làm. Phạm trù này dần dần được mở rộng để bao quát tất cả các sự thay đổi về công việc do toàn cầu hóa gây ra, do đó đã chuyển từ khái niệm “Khu vực KTPCT” sang khái niệm “Kinh tế phi chính thức”. Một khái niệm bao trùm cả khu vực KTPCT và việc làm phi chính thức - xuất hiện ở cả hai khu vực KTPCT và chính thức (ILO, 2002), hay: Kinh tế phi chính thức = Hoạt động kinh tế phi chính thức + Việc làm PCT Trong nghiên cứu này, để đảm bảo tính thông nhất thì khái niệm về khu vực KTPCT sẽ dựa trên khái niệm của (ILO, 2002). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Các hình thức hoạt động của khu vực kinh tế phi chính thức được tóm tắt trong bảng 2.1: Phân loại các hoạt động trong khu vực kinh tế phi chính thức Loại hình Giao dịch tiền tệ Giao dịch không bằng tiền tệ Mua bán các hàng hóa bị đánh Trao đổi các hàng hóa bị đánh cắp cắp, buôn bán ma túy, hoạt động hoặc sử dụng đồ trộm cắp cho Các hoạt động mại dâm, buôn lậu, cờ bạc, cá mục đích riêng; sản xuất ma túy bất hợp pháp độ,… phục vụ cho nhu cầu cá nhân hoặc trao đổi,… Trốn thuế Tránh thuế Trốn thuế Tránh thuế Thu nhập Các hoạt động Trao đổi các Tự sản xuất, không được báo không thực hàng hóa và nuôi trồng; các cáo từ hoạt hiện ký hết hợp dịch vụ hợp hoạt động sản động tự sản đồng lao động, pháp xuất mang tính xuất kinh không thực tự cung tự Các hoạt động doanh.
Tiền hiện các nghĩa cấp,… hợp pháp lương, thưởng, vụ phúc lợi xã tài sản không hội,… được kê khai và báo cáo từ các hoạt động hợp pháp,… Nguồn: Roft Mirus & Roger S.Smith (1997); Schneider & Enste (2000,tr.79) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.