mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Danh mục các tài liệu tham khảo, nghiên cứu này đƣợc chia thành năm chƣơng: Chƣơng 1: Giới thiệu. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm. Chƣơng 3: Mô hình và phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chƣơng 5: Kết luận và gợi ý. `6 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ VỐN LƢU ĐỘNG 2. Vốn lƣu động trong doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp muốn nâng cao lợi nhuận nhƣng không phải đối diện với rủi ro mất khả năng thanh toán, hoạt động quản trị vốn lƣu động là vô cùng quan trọng. Vốn lƣu động là nguồn vốn tài trợ cho tài sản ngắn hạn, đƣợc xác định bằng giá trị tài sản ngắn hạn trừ đi các khoản phải trả ngắn hạn (Ngô Kim Phƣợng, 2013). Vốn lƣu động tài trợ cho các hoạt động hằng ngày trong chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp, là chất bôi trơn giúp hoạt động của doanh nghiệp đƣợc diễn ra liên tục. Theo Mover, McGuigan và Kretlow (2004), vốn lƣu động là những khoản tiền cần thiết để thanh toán cho các hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp.
Trong nghiên cứu của Garcia Teruel và Martinez Solano (2006), vốn lƣu động là tổng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, bao gồm: tiền mặt và các khoản tƣơng đƣơng tiền, các khoản đầu tƣ tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác, đƣợc sử dụng để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp. Trong một chu kỳ kinh doanh, các dòng lƣu chuyển tiền vào và ra là không trùng khớp, điển hình nhƣ trƣờng hợp khi doanh nghiệp phát sinh nhu cầu tiền để chi tiêu cho các khoản phải trả đến hạn từ nhà cung cấp nhƣng dòng tiền vào từ hoạt động bán hàng chƣa về do chính sách bán chịu của doanh nghiệp với khách hàng. Tình trạng thiếu hụt tiền tạm thời của doanh nghiệp làm phát sinh nhu cầu vốn lƣu động, là một nguồn vốn ngắn hạn tài trợ cho các tài sản ngắn hạn. Trong quá trình kinh doanh, tài sản ngắn hạn sẽ tồn tại dƣới nhiều hình thái khác nhau, từ các khoản nợ phải trả ngƣời bán khi công ty mua chịu hàng hóa hoặc nguyên vật liệu, đƣợc tích trữ hoặc trải qua quá trình sản xuất trở thành thành phẩm và tạo nên hàng tồn kho, sau hoạt động bán hàng, chính sách bán chịu sản phẩm sẽ hình thành nên các khoản phải thu.
Khoảng thời gian bắt đầu từ lúc doanh nghiệp mua chịu hàng hóa, nguyên vật liệu đến lúc bán hàng hóa thành phẩm và thu tiền về từ khách hàng là `7 một chu kỳ kinh doanh. Khác với chu kỳ kinh doanh, chu kỳ vốn lƣu động chu kỳ vốn tài trợ cho chu kỳ kinh doanh, đƣợc tính từ thời điểm doanh nghiệp trả tiền cho ngƣời bán cho đến khi doanh nghiệp thu tiền về từ khách hàng, đƣợc xác định bằng chu kỳ kinh doanh trừ đi thời gian mà công ty chiếm dụng vốn từ nhà cung cấp (Ngô Kim Phƣợng và ctg, 2013). Trong quyết định đầu tƣ vào tài sản ngắn hạn, nhà quản trị cần cân nhắc cẩn thận một cấu trúc phù hợp, phối hợp giữa các loại tài sản ngắn hạn khác nhau nhƣ lƣợng tiền mặt tối thiểu cần duy trì, các khoản nợ phải trả cho nhà cung cấp để mua các yếu tố đầu vào, số lƣợng hàng tồn kho từ hoạt động thu mua nguyên vật liệu và quá trình sản xuất, các khoản phải thu từ việc bán sản phẩm. Vốn lƣu động ảnh hƣởng đến tình trạng thanh khoản, hiệu quả sử dụng tài sản và khả năng tài chính của doanh nghiệp.
Để quản trị vốn lƣu động một cách hiệu quả, nhà quản trị cần chú trọng đến hai khoản tài sản ngắn hạn và một khoản nợ ngắn hạn quan trọng của doanh nghiệp (Cooper và ctg, 1998; Gitman, 1997). Các khoản phải thu: Tùy thuộc vào chính sách bán hàng, một doanh nghiệp có thể thu tiền ngay hoặc cấp một hạn mức tín dụng cho phép khách hàng trả chậm trong một khoảng thời gian nhất định. Khoản phải thu đƣợc hình thành và tích lũy từ việc doanh nghiệp bán hàng tồn kho nhƣng chƣa nhận tiền thanh toán. Một chính sách bán chịu sẽ gắn liền với rủi ro thu hồi, hoạt động quản trị vốn lƣu động yêu cầu doanh nghiệp cần quản lý hiệu quả các khoản phải thu của mình.
Theo Gallinger và Healey (1987), việc cấp hạn mức thƣơng mại cho khách hàng sẽ giúp công ty đẩy mạnh doanh thu bán hàng, nhƣng nó cũng sẽ ảnh hƣởng đến hiệu suất hoạt động và các quyết định đầu tƣ vào hàng tồn kho nhằm đáp ứng nhu cầu. Gitman (1997) trong nghiên cứu của mình phát hiện mối liên hệ giữa thời gian trả tiền và khả năng vỡ nợ của các khoản phải thu khó đòi, dựa trên tính chất chiếm tỷ trọng lớn trong thời gian lƣu chuyển của dòng tiền, ông cho rằng việc rút ngắn đƣợc thời gian thu tiền sẽ tạo ra hiệu quả cao nhất so với việc tập `8 trung kiểm soát các yếu tố khác cùng có tác động đến thời gian luân chuyển tiền tệ của doanh nghiệp. Hàng tồn kho: Tùy thuộc vào các ngành khác nhau, hàng tồn kho có thể bao gồm: nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất, sản phẩm dở dang, thành phẩm. Việc quản lý hàng tồn kho cần có sự cân bằng giữa lƣợng vốn tài trợ nhằm duy trì hàng tồn kho và khả năng tạo doanh thu.
Duy trì hàng tồn kho ở mức thấp có thể khiến công ty thiếu hụt sản phẩm, không thể thực hiện đơn hàng đúng hẹn hoặc vụt mất cơ hội gia tăng doanh nhu khi nhu cầu thị trƣờng tăng cao. Tuy nhiên, việc duy trì hàng tồn kho cao sẽ làm gia tăng chi phí cơ hội. Do vai trò quan trọng quyết định hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, đã có nhiều học giả nghiên cứu về mức tồn kho tối ƣu. Theo Richards và Laughlin (1980), một doanh nghiệp sẽ duy trì hàng tồn kho ở mức cao nếu lợi ích đem lại lớn hơn chi phí, điển hình trong các trƣờng hợp nhƣ mức chiết khấu lớn cho lƣợng đặt hàng lớn, chi phí lƣu trữ thấp, ít nguồn cung cấp thay thế hay thời gian vận chuyển không ổn định.
Theo Corbett và Bayly (1991), để giảm bớt chi phí đầu tƣ vào hàng tồn kho, doanh nghiệp nên nắm giữ lƣợng tồn kho ở mức tối thiểu để duy trì hoạt động đồng thời tập trung vào việc xây dựng chuỗi cung ứng, phát triển tốt các mối quan hệ với nhà cung cấp, xây dựng hệ thống logistic và vận chuyển hiệu quả. Các khoản nợ phải trả: Là nguồn tài trợ bên trong đƣợc hình thành trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Đây là nguồn vốn doanh nghiệp chiếm dụng từ nhà cung cấp, ngƣời lao động và nhà nƣớc, không phải trả lãi, giúp tiết kiệm đƣợc chi phí vốn so với việc sử dụng các nguồn vốn bên ngoài nhƣ vốn vay hay vốn chủ sở hữu. Theo Gallinger và Healey (1997), nợ phải trả chiếm tỷ trọng lớn nhất trong dòng tiền ra của doanh nghiệp.
Do không có chi phí sử dụng vốn, điều này tạo động lực cho một số doanh nghiệp gia tăng sử dụng nguồn tài trợ này, dẫn đến sự phụ thuộc quá mức vào các nguồn vốn chiếm dụng. Tuy nhiên, nợ phải trả cũng tồn tại các chi `9 phí ẩn, điển hình nhƣ doanh nghiệp phải chịu mức giá bán cao hơn từ nhà cung cấp, chi phí cơ hội cho các khoản ứng trƣớc tiền mặt, điều này làm gia tăng chi phí cho doanh nghiệp (Payne, 1993). Theo Richards và Laughlin (1980), qui mô nợ phải trả tùy thuộc vào chính sách tín dụng thƣơng mại của nhà cung cấp, qui mô hoạt động, khả năng đàm phán và mức độ tín nhiệm của doanh nghiệp. Một số quan điểm về quản trị vốn lƣu động.
Các nghiên cứu về quản trị vốn lƣu động đề cập đến việc quản trị vốn lƣu động nhƣ thế nào nhằm đạt đƣợc các lợi ích bao gồm: tính thanh khoản, hiệu quả hoạt động, lợi nhuận bền vững và tối đa hóa giá trị cho cổ đông (Brigham và ctg, 1994; Gitman, 1997). Osisioma (1997) cho rằng hoạt động quản trị vốn lƣu động là quá trình quản lý, kiểm soát và điều chỉnh để đạt đƣợc sự cân bằng giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn, đảm bảo rằng các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp đƣợc đảm bảo thực hiện đúng thời hạn. Quản trị vốn lƣu động bao gồm các quyết định về tài trợ và đầu tƣ vào tài sản ngắn hạn, bắt đầu từ việc xây dựng một chính sách quản trị vốn lƣu động và áp dụng thực hiện nó vào hoạt động thƣờng ngày của doanh nghiệp nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đã đề ra (Cooper và ctg, 1998; Asch và Kaye, 1989). Mức độ đầu tƣ vào tài sản ngắn hạn là cơ sở quyết định cho hiệu quả của việc quản trị vốn lƣu động.
Nhà quản trị cần xác định cụ thể mức nhu cầu vốn lƣu động và nguồn tài trợ cho nhu cầu này, trên cơ sở cân nhắc đến sự đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận (Madura và Veit, 1988). Việc đầu tƣ nhiều vào tài sản ngắn hạn giúp tăng khả năng thanh khoản của doanh nghiệp, nhƣng điều này làm tăng các khoản chi phí đầu tƣ và duy trì, từ đó có thể giảm lợi nhuận. Ngƣợc lại, doanh nghiệp có thể theo đuổi việc tối đa hóa lợi nhuận bằng cách duy trì mức đầu tƣ vào tài sản ngắn hạn thấp nhằm tiết kiệm chi phí và tăng vòng quay tổng tài sản, tuy nhiên sẽ phải đối điện với rủi ro thanh khoản và vụt mất các cơ hội kinh doanh khi nhu cầu tăng cao. `10 Trong nghiên cứu của Ogundipe và ctg (2012), quản trị vốn lƣu động là quá trình quản trị tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn.
Theo Nobanee và Haijiar (2011), quản trị vốn lƣu động là một hoạt động rất quan trọng vì sự ảnh hƣởng trực tiếp của nó đến khả năng thanh khoản và khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có thể đối mặt với rủi ro phá sản nếu lựa chọn một chiến lƣợc quản trị vốn lƣu động không hợp lý, dù rằng doanh nghiệp vẫn có khả năng sinh lời. Mansoori và Muhammad (2012) cho rằng mục tiêu chính của quản trị vốn lƣu động là đảm bảo doanh nghiệp có đủ dòng tiền để tiếp tục vận hành và tối thiểu hóa rủi ro mất khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn.