Phần mở đầu Tóm tắt Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết. Chƣơng 2: Tổng quan về các nghiên cứu trƣớc đây & Các giả thuyết nghiên cứu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 Chƣơng 3: Mô hình & kết quả nghiên cứu thực nghiệm. Chƣơng 4: Kết luận & hƣớng nghiên cứu tiếp theo.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 TÓM TẮT Dựa theo phƣơng pháp nghiên cứu của Liu và cộng sự (2011), tôi đã tiến hành nghiên cứu tác động của quản trị doanh nghiệp đến giá trị của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ khủng hoảng tài chính diễn ra vào năm 2007-2008 và nhận thấy rằng: Các doanh nghiệp có nhà nƣớc là cổ đông kiểm soát đƣợc cho rằng là hoạt động kém hiệu quả trƣớc khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra thì hoạt động tốt hơn trong cuộc khủng hoảng, đặc biệt là khi các doanh nghiệp này dựa trên nợ Ngân hàng. Điều này cho thấy rằng sở hữu nhà nƣớc giúp doanh nghiệp giảm nhẹ những khó khăn về tài chính trong thời gian khủng hoảng kinh tế; Tổng tỷ lệ sở hữu của các cổ đông lớn có một mối quan hệ phi tuyến (hình chữ U) với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong suốt thời kỳ khủng hoảng, điều này cho thấy sự tập trung quyền sở hữu gián tiếp làm giảm nhẹ khó khăn tài chính cho doanh nghiệp. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu thực nghiệm còn cho thấy rằng doanh nghiệp đƣợc điều hành bởi Tổng Giám đốc (hoặc Giám đốc) kiêm nhiệm Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị thì hoạt động kém hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác. Cuối cùng, các doanh nghiệp đƣợc kiểm toán bởi các doanh nghiệp kiểm toán quốc tế có uy tín (Big Four) thì giá trị doanh nghiệp giảm nhẹ hơn trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Giá trị doanh nghiệp Định nghĩa giá trị doanh nghiệp: có nhiều định nghĩa về giá trị doanh nghiệp. Trong phần cơ sở lý thuyết này, tôi đƣa ra một vài định nghĩa phổ biến về giá trị doanh nghiệp: Giá trị doanh nghiệp theo sổ sách kế toán: là tổng giá trị tài sản thể hiện trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp theo chế độ kế toán hiện hành. Giá trị thực tế của doanh nghiệp: là tổng giá trị thực tế của tài sản (hữu hình và vô hình) thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp tính theo giá thị trƣờng tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp. Giá trị lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp: là giá trị tăng thêm do các yếu tố lợi thế tạo ra nhƣ vị trí địa lý, thƣơng hiệu, thị trƣờng và thị phần trong nƣớc cũng nhƣ nƣớc ngoài… của doanh nghiệp.
Theo Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam số 02: Giá trị doanh nghiệp là giá trị toàn bộ tài sản của một doanh nghiệp. Giá trị của mỗi tài sản cấu thành tổng tài sản của doanh nghiệp không thể tách rời nhau và cũng không thể thẩm định trên cơ sở giá trị thị trƣờng. Giá trị doanh nghiệp phải đƣợc xem xét trên tổng thể tài sản, không phải là giá trị của từng tài sản riêng rẽ, bao gồm tài sản hữu hình và tài sản sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp. Xác định giá trị doanh nghiệp: đƣợc hiểu và thừa nhận một cách rộng rãi là việc điều tra chi tiết và đánh giá các hoạt động của doanh nghiệp nhằm xác định giá trị hiện hữu và tiềm năng của một doanh nghiệp.
Đối tƣợng áp dụng là các doanh nghiệp đã và đang chuẩn bị cổ phần hóa; các doanh nghiệp dự kiến sẽ có những thay đổi đáng kể về quyền sở hữu hoặc cơ cấu vốn của doanh nghiệp: sáp nhập, liên doanh, liên kết, chuyển nhƣợng vốn, mua bán doanh nghiệp hoặc nhƣợng quyền kinh doanh.; các doanh nghiệp chuẩn bị phát hành trái phiếu lần đầu tiên ra công chúng hoặc các doanh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 nghiệp đang trên đà phát triển và mở rộng qui mô hoạt động, hoặc có sự thay đổi về tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tại sao phải xác định giá trị doanh nghiệp? Các doanh nghiệp thƣờng tiến hành xác định giá trị doanh nghiệp dựa vào những lý do sau đây: Nhằm trợ giúp cho quá trình chuyển đổi cơ cấu về vốn chủ sở hữu. Đầu tiên, cổ đông hoặc nhà đầu tƣ muốn nắm bắt một cách chi tiết về tình hình hiện tại của doanh nghiệp trƣớc khi đƣa ra quyết định cuối cùng. Họ muốn biết các cơ hội và tiềm năng phát triển cho tƣơng lai của doanh nghiệp.
Đặc biệt, họ muốn hiểu các khoản nợ ngoài dự kiến, ví dụ các vấn đề về thuế, các nguy cơ tiềm ẩn về kiện tụng, tranh chấp. Giúp chuẩn bị cho việc phát hành trái phiếu ra công chúng lần đầu (IPO). Thị trƣờng Chứng khoán áp đặt một số yêu cầu và qui tắc nhất định về chủng loại thông tin mà doanh nghiệp buộc phải công khai trong các văn bản IPO (đƣợc gọi là Bản cáo bạch). Quy trình “Xác định giá trị doanh nghiệp” phải xác định và chỉ ra đƣợc hoạt động cốt lõi của doanh nghiệp và các cơ hội cũng nhƣ các nhân tố rủi ro.
Thành công của IPO phụ thuộc rất nhiều vào quá trình chuẩn bị. Thiếu sự chuẩn bị kỹ lƣỡng này, các bên liên quan tới IPO có thể sẽ phải đƣơng đầu với những khó khăn và doanh nghiệp có thể bị giảm giá trị một cách đáng kể khi niêm yết, do đó sẽ ảnh hƣởng xấu tới lợi ích của các chủ sở hữu. Giúp cải thiện tình hình hoạt động chung của doanh nghiệp trƣớc thực trạng hoạt động kém hiệu quả. Quá trình xác định giá trị doanh nghiệp sẽ đánh giá một cách khách quan các điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp.
Bằng việc xác định và chỉ ra những vấn đề hoặc các khu vực thể hiện rõ nhất các điểm yếu của doanh nghiệp, quá trình “xác định giá trị doanh nghiệp” là một công cụ nhằm giúp doanh nghiệp đánh giá một cách khách quan hoặc “mở khoá” các cơ hội/tiềm năng và gia tăng giá trị cho các cổ đông hiện tại và tƣơng lai. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Cách xác định giá trị doanh nghiệp trong bài nghiên cứu: giá trị doanh nghiệp trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này đƣợc đại diện bởi hệ số Q của Tobin. Hệ số Q của Tobin: Hệ số Q của Tobin (tiếng Anh: Tobin's Q) là tỷ số giữa giá trị thị trƣờng và giá trị thay thế của một tài sản hữu hình. Hệ số này đƣợc James Tobin phát triển vào năm 1969.
Thông thƣờng hệ số Q của Tobin của một doanh nghiệp đƣợc tính bằng tổng nợ phải trả và giá trị thị trƣờng của vốn chủ sở hữu chia cho giá trị sổ sách của tổng tài sản. Công thức cụ thể nhƣ sau: Tổng Nợ phải trả + Giá trị thị trƣờng của cổ phần thƣờng + Giá trị thị trƣờng ƣớc tính của cổ phần ƣu đãi Tobin′ s Q = Giá trị sổ sách của Tổng tài sản Hệ số Q của Tobin có thể đƣợc tính cho từng doanh nghiệp riêng lẻ hoặc của toàn bộ nền kinh tế. Lý thuyết Hệ số Q của Tobin cho rằng doanh nghiệp nên đầu tƣ thêm nếu hệ số Q lớn hơn một. Sau này lý thuyết Q đƣợc xây dựng mở rộng thêm, với việc tính tới các yếu tố khác nhƣ độ rủi ro và khả năng không rút lui đƣợc trong đầu tƣ.
Lý thuyết về hệ số Q của Tobin là một trong những lý thuyết rất quan trọng trong kinh tế và tài chính.2 Các khái niệm liên quan đến quản trị doanh nghiệp Tập trung quyền sở hữu là khái niệm đề cập đến số lƣợng cổ phiếu thuộc sở hữu của cổ đông lớn (nhà đầu tƣ cá nhân và/hoặc tổ chức nắm giữ ít nhất năm phần trăm vốn chủ sở của doanh nghiệp), đƣợc dùng để đo lƣờng mức độ nắm giữ cổ phần trong một doanh nghiệp. Trong giao dịch công khai của các doanh nghiệp, cổ đông lớn thƣờng là tổ chức đầu tƣ theo hình thức các quỹ tƣơng hỗ và/hoặc quỹ hƣu trí. Các cổ đông lớn thì có quyền giám sát cao hơn đối với các quyết định quản trị của một doanh nghiệp vì các chủ doanh nghiệp có những ƣu đãi riêng để các cổ đông lớn chủ động bảo vệ sự đầu tƣ của mình. Ngoài ra các cổ đông lớn còn có thể có những hành động tác động tích cực, trực tiếp hoặc gián tiếp, đến các quyết định của doanh nghiệp ví dụ nhƣ trong các cuộc bầu cử thành viên của Hội đồng quản trị và thay thế các Giám đốc điều hành quản lý kém cũng ảnh hƣởng từ quyền biểu quyết của họ.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Tỷ lệ quản lý sở hữu đƣợc định nghĩa là tỷ lệ để đo lƣờng mức độ (tỷ trọng) nắm giữ cổ phần của Ban điều hành doanh nghiệp. Tƣớc quyền sở hữu doanh nghiệp của các cổ đông thiểu số: là việc mà các cổ đông lớn (cổ đông kiểm soát) sử dụng phần vốn góp của các cổ đông thiểu số để phục vụ cho lợi ích khác của họ, không phục vụ cho lợi ích của các cổ đông thiểu số. Vấn đề tƣớc quyền sở hữu doanh nghiệp thƣờng xảy ra trong các doanh nghiệp có nhà nƣớc là cổ đông kiểm soát. Vì thông thƣờng nhà nƣớc sẽ sử dụng quyền kiểm soát của mình sử dụng vốn của doanh nghiệp (kể cả phần vốn của các cổ đông thiểu số) để phục vụ cho các lợi ích cộng đồng thay vì phục vụ cho mục đích lợi nhuận nhƣ ở các doanh nghiệp tƣ nhân.
Các hình thức cơ bản của cơ cấu sở hữu doanh nghiệp: Hình thức cấu trúc sở hữu toàn diện 100% vốn chủ sở hữu: Các đơn vị đƣợc hình thành theo hình thái sở hữu này phụ thuộc hoàn toàn vào doanh nghiệp mẹ, tuân thủ hoàn toàn các quyết định của doanh nghiệp mẹ mà không đƣợc phản kháng. Các phòng ban chức năng của các đơn vị trực thuộc trong hình thái sở hữu này thực chất là “cánh tay nối dài” của các phòng ban doanh nghiệp mẹ. Hình thức cấu trúc sở hữu toàn diện có phân định: Cấp độ quản lý giảm dần đối với hình thái sở hữu toàn diện có phân định. Về nguyên tắc, trong hình thái sở hữu này, doanh nghiệp con cũng vẫn phải tuân thủ hoàn toàn các quyết định của doanh nghiệp mẹ, tuy nhiên cách thức quản lý đối với doanh nghiệp con là thông qua ngƣời đại diện vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp mẹ.
Do đó, để thi hành các quyết định của doanh nghiệp mẹ tại doanh nghiệp con, phải thông qua quyết định của Chủ tịch hoặc Hội đồng thành viên của doanh nghiệp con.