phần mở đầu, bảng biểu và phụ lục, luận văn gồm có 5 chƣơng Chƣơng 1 : Tổng quan các nghiên cứu Chƣơng 2 : Cơ sở lý thuyết Chƣơng 3 : Thiết kế nghiên cứu Chƣơng 4 : Kết quả nghiên cứu Chƣơng 5 : Kết luận và gợi ý chính sách 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên cứu nƣớc ngoài Nghiên cứu của Park, Y. Nghiên cứu cho thấy sự hiện diện của thành viên Hội đồng quản trị đến từ các trung gian tài chính và sự hiện diện của cổ đông là tổ chức thì làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận, tăng tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị bên ngoài làm tăng hành vi điều chỉnh lợi nhuận, kết quả trái ngƣợc với quan điểm cho rằng tăng tỷ lệ Hội đồng quản trị bên ngoài sẽ giúp Hội đồng quản trị tăng tính độc lập, giải quyết xung đột lợi ích giữa cổ đông nhỏ và cổ đông lớn. Tác giả cho rằng các thành viên hội đồng quản trị bên ngoài ở các công ty Canada thiếu sự tinh tế trong lĩnh vực tài chính hay thiếu sự truy cập thông tin để phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận, thêm vào đó có thể các thành viên bên ngoài thiếu quan tâm đến hoạt động công ty vì họ thiếu quyền sở hữu, hoặc do thiếu sự độc lập thực sự và thiếu quyền lực để thực hiện việc giám sát., Zafar, N and Durrani, T. (2009) nghiên cứu mối quan hệ giữa hội đồng thành phần và quản trị lợi nhuận trong các công ty niêm yết tại Pakistan trong giai đoạn 2003 đến 2007 nghiên cứu 120 công ty niêm yết từ nhiều lĩnh vực khác nhau, nguồn thu thập số liệu từ bảng phân tích cân đối kế toán và báo cáo thƣờng niên của các công ty.
Quản trị lợi nhuận trong nghiên cứu này đƣợc sử dụng phƣơng pháp trích trƣớc dựa vào bảng cân đối kế toán và báo cáo lƣu chuyển tiền. Nghiên cứu sử dụng phƣơng pháp hồi quy và thống kê mô tả để phân tích các yếu tố gồm hội đồng quản trị độc lập, sở hữu tổ chức, quy mô công ty và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), tác giả kết luận rằng trong các yếu tố xem xét đều có ảnh hƣởng tiêu cực, mặc dù hội đồng quản trị độc lập có ảnh hƣởng tích cực với quản trị lợi nhuận tuy nhiên mối quan hệ này là không đáng kể về mặt thống kê. (2011) nghiên cứu về ảnh hƣởng của đặc tính hội đồng quản trị và quản trị lợi nhuận của 212 công ty niêm yết về giao dịch chứng khoán tại Indonesia trong giai đoạn 2004 – 2008. Nghiên cứu phân tích bao gồm 8 nhân tố: hội đồng quản trị độc lập, tính kiêm nhiệm của chủ tịch HĐQT và CEO, quy mô của hội đồng quản trị, quyền sở hữu quản lý, hội đồng thành phần, nhiệm kỳ của hội đồng quản trị, hội đồng kiêm nhiệm và uỷ ban kiểm toán.
Qua phân tích định lƣợng và dữ liệu thứ cấp thu đƣợc từ các nguồn khác nhau, kết quả cho thấy : 1 trong 8 biến có ảnh hƣởng cùng chiều đến quản trị lợi nhuận là biến tính kiêm nhiệm của chủ tịch HĐQT và CEO, 7 biến còn lại tác động ngƣợc chiều đến quản trị lợi nhuận. (2013) nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ giữa đặc điểm Ban giám đốc và quản trị lợi nhuận từ năm 2011 đến năm 2015 trên 71 công ty niêm yết của Malaysia. Thông tin liên quan đến đặc điểm của Ban giám đốc đƣợc chiết xuất từ báo cáo hàng năm của hội đồng quản trị trình bày tại đại hội các cổ đông, thông tin còn lại đƣợc lấy trực tiếp từ các công ty đƣợc nghiên cứu. Quản trị lợi nhuận đƣợc đo bằng phƣơng pháp trích trƣớc và để ƣớc lƣợng các khoản trích trƣớc.
Trong nghiên cứu này nhiều hồi quy tuyến tính đã đƣợc sử dụng và sử dụng phần mềm SPSS đề phân tích. Tác giả đƣa ra 4 giả thuyết nghiên cứu bao gồm : các cuộc họp của hội đồng quản trị, tỷ lệ phần trăm của giám đốc thuê bên ngoài, trình độ về chuyên môn tài chính của nhà quản trị và sự hiện diện hay vắng mặt của giám đốc quản lý và giám đốc điều hành. Kết quả nghiên cứu kết luận rằng số lƣợng cuộc họp của hội đồng quản trị không có quan hệ với tùy ý trích trƣớc, giám đốc thuê bên ngoài, trình độ về chuyên môn tài chính của ban quản trị có ảnh hƣởng tích cực đến biến tùy ý trích trƣớc, biến còn lại là sự hiện diện của giám đốc quản lý và giám đốc điều hành trong nghiên cứu này bị bác bỏ. Nghiên cứu của Sukeecheeo, S.
Mô hình nghiên cứu gồm 5 biến nhƣ sau : tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị, thành viên hội đồng quản trị độc lập, tính kiêm nhiệm hội đồng quản trị và tổng giám đốc, tần suất cuộc họp hội đồng quản trị và biến quy mô hội đồng quản trị. Nghiên cứu đã kết luận rằng tăng tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị tham gia hội đồng quản trị các công ty khác thì làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận và các công ty có lƣu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh càng tăng thì càng làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận, thành viên hội đồng quản trị độc lập không điều hành thì làm tăng hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Park & Shin (2004), tác giả giải thích cho kết quả này là do thành viên hội đồng quản trị độc lập tại các công ty niêm yết ở Thái Lan thiếu sự độc lập và thiếu quyền lực để điều tra hành vi sai trái HĐQT, nghiên cứu không tìm ra mối quan hệ giữa tính kiêm nhiệm HĐQT và tổng giám đốc, biến quy mô hội đồng quản trị và tần số cuốc họp của HĐQT với hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Kankanamage (2015) nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc tính hội đồng và quản trị lợi nhuận, bằng chứng từ các công ty niêm yết tại Srilankan trong giai đoạn 2012 đến 2015.
Tác giả chọn mẫu 160 công ty niêm yết, mô hình gồm 4 biến độc lập gồm : quy mô hội đồng quản trị, thành phần hội đồng quản trị, cuộc họp của hội đồng quản trị, chuyên môn tài chính của ban quản trị và biến phụ thuộc là QTLN. Sau khi phân tích định lƣợng nghiên cứu kết luận rằng biến quy mô hội đồng quản trị có mối quan hệ tích cực đáng kể với quản trị lợi nhuận trong khi các biến chuyên môn tài chính của hội đồng quản trị, cuộc họp của hội đồng quản trị và thành phần hồi đồng quản trị có ảnh hƣởng tiêu cực đến quản trị lợi nhuận. (2015) nghiên cứu về quản trị công ty và quản trị lợi nhuận: bằng chứng thực nghiệm từ Nigeria. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 62 công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Nigeria trong năm 2008, tác giả sử dụng 3 biến độc lập bao gồm tính kiêm nhiệm của giám đốc điều hành và chủ tịch HĐQT, quy mô HĐQT, ủy ban kiểm toán độc lập, ngoài ra đề tài còn sử dụng 5 biến kiểm soát bao gồm: quy mô doanh nghiệp, độ tuổi công ty, loại 8 kiểm toán viên, đòn bẩy tài chính và ROA.
Bằng phƣơng pháp thống kê mô tả nghiên cứu chỉ ra rằng 1 trong 3 biến độc lập có mối quan hệ cùng chiều với quản trị lợi nhuận là kích thƣớc HĐQT, 2 biến độc lập còn lại không có ý nghĩa thống kê, 1 trong 6 biến kiểm soát là ROA có mối quan hệ tích cực với quản trị lợi nhuận, các biến kiểm soát còn lại không có ý nghĩa thống kê. (2016) nghiên cứu ảnh hƣởng của đặc điểm công ty về quản trị lợi nhuận ở các công ty niêm yết tại Ai Cập giai đoạn 2007 đến 2011, tác giả chọn 60 công ty lớn nhất Ai Cập ngoại trừ các ngân hàng và công ty bảo hiểm với tổng cộng 300 quan sát, các xét nghiệm cho nghiên cứu này đƣợc thực nghiệm bằng cách sử dụng hiệu ứng ngẫu nhiên, mô hình hồi quy vuông sử sụng chƣơng trình stada. Tác giả đo lƣờng biến phụ thuộc dựa vào phƣơng pháp tùy ý trích trƣớc cho quản trị lợi nhuận, nghiên cứu sử dụng phƣơng pháp tiếp cận báo cáo lƣu chuyển tiền để tính tổng số trích trƣớc. Các đặc điểm đƣợc kiểm tra biến độc lập là: quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính, tuổi công ty và chất lƣợng kiểm toán của doanh nghiệp.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng đòn bẩy tài chính của công ty có mối quan hệ tích cực đáng kể với quản trị lợi nhuận, các biến còn lại nhƣ quy mô doanh nghiệp, tuổi công ty và chất lƣợng kiểm toán không bị bác bỏ. Nghiên cứu còn mở rộng thêm một biến về chất lƣợng của báo cáo tài chính và tầm quan trọng của nó. Nghiên cứu của Abbadi, S. (2016) về chất lƣợng quản trị công ty và quản lý thu nhập bằng chứng từ Jordan, kiểm tra các nhân tố ảnh hƣởng đến quản trị lợi nhuận trong giai đoạn 2009 đến 2013 với tổng số 121 công ty bao gồm tất cả các ngành công ghiệp và dịch vụ tại Amman, tổng số 558 quan sát.
Chất lƣợng quản trị công ty (biến điều khiển) bao gồm ban giám đốc, các cuộc họp của Ban giám đốc, kiểm toán và đề cử và tiền bồi thƣờng. Bằng phƣơng pháp thống kê mô tả nghiên cứu đã chỉ ra quản trị công ty có ảnh hƣởng tiêu cực đáng kể đến quản trị lợi nhuận, các biến nhƣ quy mô công ty, tỷ lệ tăng doanh thu, lợi nhuận trên tài sản (ROA) có ảnh hƣởng tiêu cực đến quản trị lợi nhuận. Riêng biến đòn bẩy tài chính có ý nghĩa tích cực.M and Bel Hadj Mbarek,K. (2016) thực hiện nghiên cứu thực nghiệm ảnh hƣởng của đặc điểm Ban Quản trị về quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết tại Pháp bao gồm 70 công ty với 350 quan sát trong nhiều lĩnh vực khác nhau, giai đoạn 2008 – 2012.
Tác giả kiểm tra mối quan hệ giữa 4 biến độc lập bao gồm : độ lớn (kích thƣớc của hội đồng quản trị), tính độc lập của Ban quản trị, tính kiêm nhiệm của chủ tịch hội đồng quản trị và CEO, hoạt động của hội đồng quản trị. Ngoài ra, tác giả còn đƣa vào nghiên cứu 4 biến kiểm soát bao gồm kích thƣớc công ty, đoàn bẩy tài chính, khu vực công nghệ cao và ROI (hiệu suất công ty).