Chương 1 trình bày cơ sở lý thuyết về nợ công, lạm phát, ảnh hưởng của lạm phát lên nợ công và khung phân tích lý thuyết nợ công, lạm phát và tăng trưởng kinh tế. Chương 2 là tổng quan về mối quan hệ giữa nợ công và lạm phát; tác Ďộng của nợ công và lạm phát lên tăng trưởng kinh tế. Phần này Ďược trình bày dưới dạng phân tích và tổng hợp từ các nghiên cứu có liên quan trước Ďây. Chương 3 mô tả mô hình thực nghiệm và các phương pháp nghiên cứu trong Ďó xác Ďịnh khung phân tích thực nghiệm của mô hình, mô hình thực nghiệm, phương pháp ước lượng và dữ liệu nghiên cứu.
Chương 4 là kết quả thực nghiệm tác Ďộng của nợ công lên lạm phát cho các nước Ďang phát triển ở Châu Á, Châu Phi, và Mỹ Latin trong giai Ďoạn 1990-2014. Chương 5 nêu bật kết quả thực nghiệm tác Ďộng của nợ công, lạm phát, và tương tác của chúng lên tăng trưởng kinh tế cho các nước Ďang phát triển ở Châu Á, Châu Phi, và Mỹ Latin trong giai Ďoạn 1990-2014. Phần kết luận và hàm ý chính sách. Phần này xác Ďịnh lại những phát hiện của Ďề tài nghiên cứu và các khuyến nghị Ďược Ďưa ra cho các chính sách có liên quan.
Ngoài ra, hạn chế của luận án và các hướng nghiên cứu trong tương lai cũng Ďược Ďề cập. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT Tóm tắt Chương này bao gồm hai phần. Phần một xác Ďịnh nền tảng lý thuyết của nợ công và lạm phát trong Ďó nêu rõ các khái niệm và tác Ďộng của chúng lên nền kinh tế; và chỉ rõ lý thuyết về mối quan hệ giữa hai Ďại lượng này. Phần hai là khung phân tích nợ công, lạm phát và tăng trưởng kinh tế trong Ďó mô tả sự cần thiết của nợ công trong việc ổn Ďịnh các cân Ďối vĩ mô; và vấn Ďề nợ công và lạm phát trong các mô hình tăng trưởng nội sinh.1 Nền tảng lý thuyết nợ công và lạm phát 1.1 Lý thuyết nợ công Khái niệm nợ công của các tổ chức quốc tế Khu vực công Khu vực Khu vực các tổ Chính phủ chức công Chính phủ Các tổ chức công Các tổ chức công trung ương phi tài chính tài chính Chính quyền liên bang Ngân hàng Trung ương (NHTW) Chính quyền Ďịa phương Các tổ chức nhà nước nhận tiền gửi (trừ NHTW) Hình 1.1: Các thành phần của khu vực công theo Ďịnh nghĩa của IMF Các tổ chức tài Nguồn: IMF (2010) chinh công khác TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Theo IMF (2010), nợ công Ďược hiểu là nghĩa vụ trả nợ của khu vực công.
Đi kèm với Ďó là Ďịnh nghĩa cụ thể về khu vực công, bao gồm khu vực Chính phủ và khu vực các tổ chức công (Hình 1. Còn theo WB (2002), nợ công là toàn bộ những khoản nợ của Chính phủ và những khoản nợ Ďược Chính phủ bảo lãnh. Theo quy Ďịnh của Luật quản lý nợ công năm 2009 của Việt Nam, nợ công Ďược hiểu bao gồm ba nhóm là nợ Chính phủ, nợ Ďược Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền Ďịa phương. Như vậy, có thể nhận thấy là Ďịnh nghĩa nợ công của Việt Nam gần giống với những gì mà World Bank Ďã xác Ďịnh và khá hẹp so với những Ďịnh nghĩa rộng hơn của IMF (2010).
Trong nghiên cứu này, nợ công Ďược xác Ďịnh theo cách Ďịnh nghĩa của IMF (2010). Theo Ďó, nợ công bao gồm nợ trong nước và nợ nước ngoài. Bản chất kinh tế của nợ công Theo nguyên tắc, khi việc chi tiêu vượt quá khả năng của nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác thì chính phủ buộc phải vay nợ Ďể tài trợ và việc này khiến nợ công phát sinh. Điều này cho thấy nợ công là hệ quả của bội chi ngân sách của chính phủ và chính phủ có phải có trách nhiệm hoàn trả.
Vậy thì các nhà kinh tế học quan niệm như thế nào về việc vay nợ của chính phủ. Trong lĩnh vực tài chính công, các nhà kinh tế học cổ Ďiển luôn nêu bật một nguyên tắc quan trọng và nhất quán về quản lý ngân sách là nguyên tắc ngân sách cân bằng. Theo Ďó, ngân sách cân bằng là ngân sách mà thu và chi bằng nhau. Điều này giúp chính phủ chi tiêu hợp lý, tránh sự hoang phí và hạn chế tình trạng lạm thu thông qua việc ban hành các chính sách thuế và tăng thuế.
Nguyên tắc này Ďược khởi xướng và ủng hộ triệt Ďể bởi các nhà kinh tế học cổ Ďiển như Adam Smith, David Ricardo, và John Stuart Mill (Tsoulfidis, 2007). Vì vậy, hầu hết các nhà kinh tế học cổ Ďiển không Ďồng tình với việc vay nợ của chính phủ Ďể chi tiêu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Trái lại, nhà kinh tế học John Maynar Keynes và những người thuộc trường phái Keynes lại ủng hộ việc vay nợ của chính phủ Ďể thúc Ďẩy tăng trưởng kinh tế thông qua chi tiêu (Theocarakis, 2014). Họ lập luận trong những tình huống suy thoái kinh tế, việc Ďầu tư của khu vực tư nhân sụt giảm mạnh thì việc gia tăng Ďầu tư của chính phủ vào dự án công như cơ sở hạ tầng, giáo dục, và y tế thông qua vay nợ sẽ giúp phục hồi nền kinh tế.
Hầu hết các chính phủ Ďều sử dụng lý thuyết của trường phái Keynes Ďể vượt qua khủng hoảng kinh tế và tình trạng suy thoái của nền kinh tế. Tuy nhiên, Paul Samuelson, một nhà kinh tế học ủng hộ trường phái Keynes, cho rằng việc phối hợp cả chính sách tài khóa mở rộng và chính sách tiền tệ linh hoạt là cần thiết Ďể thúc Ďẩy hiệu quả nền kinh tế vượt qua suy thoái. Điều này cho thấy nợ công cũng là một công cụ gián tiếp quan trọng trong Ďiều hành kinh tế của các chính phủ nhưng việc sử dụng nó phải có sự thận trọng và Ďòi hỏi phải có sự phối hợp hiệu quả giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Tác đ ng kinh tế của nợ công Nautet & Van Meensel (2011) cho rằng tác Ďộng của chính sách tài khóa – và từ Ďó của nợ công – lên tăng trưởng kinh tế luôn là chủ Ďề của các cuộc tranh luận giữa các nhà kinh tế học.
Các tác động ngắn hạn và dài hạn của sụt giảm nợ công Nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm liên quan Ďến tác Ďộng của nợ công lên hoạt Ďộng kinh tế có phạm vi khá rộng nhưng không Ďưa ra một câu trả lời rõ ràng về mối liên hệ giữa nợ công và hoạt Ďộng kinh tế (Nautet & Van Meensel, 2011). Thực vậy, tác Ďộng này phụ thuộc rất nhiều vào các tình huống, có thể thay Ďổi theo thời gian và có sự khác biệt giữa các nước. Điều quan trọng ở Ďây là phân biệt giữa tác Ďộng kinh tế trong ngắn hạn và dài hạn của nợ công. Tác động trong ngắn hạn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Trong ngắn hạn, các công cụ tài khóa dùng Ďể củng cố kỷ luật ngân sách sẽ làm suy giảm tăng trưởng kinh tế.
Thực vậy, hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng các số nhân ngân sách là dương trong ngắn hạn. Tuy nhiên, tác Ďộng âm trong ngắn hạn của việc củng cố kỷ luật tài khóa lên hoạt Ďộng kinh tế thay Ďổi tùy vào các công cụ tài khóa Ďược vận dụng. Các công cụ có liên quan Ďến chi tiêu và Ďầu tư công có tác Ďộng mạnh lên hoạt Ďộng kinh tế, trong khi các công cụ có liên quan Ďến chi chuyển nhượng – chẳng hạn thuế hoặc các phúc lợi xã hội – có tác Ďộng yếu hơn. Nguyên nhân là chi chuyển nhượng chỉ có tác Ďộng gián tiếp lên sự thay Ďổi tiêu dùng hoặc Ďầu tư thông qua việc Ďiều chỉnh thu nhập của các hộ gia Ďình hoặc doanh nghiệp.
Ngoài ra, tác Ďộng âm của các công cụ này lên tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn yếu hơn – hoặc thậm chí không hiện diện trong thực tế – nếu tình trạng tài trợ công xấu Ďi và gây quan ngại. Thực vậy, các công cụ tài khóa dùng Ďể củng cố kỷ luật ngân sách có thể làm tăng lãi suất, gây bất lợi cho Ďầu tư tư nhân. Thêm vào Ďó, chúng có thể Ďưa Ďến sự sụt giảm tỷ lệ tiết kiệm. Theo Ďó, lý thuyết tương Ďương Ricardo cho rằng sự gia tăng nợ công sẽ Ďược bù Ďắp bằng sự gia tăng tỷ lệ tiết kiệm tư nhân bởi vì các cá nhân tính Ďến viễn cảnh gia tăng thuế và cắt giảm chi tiêu công trong tương lai.
Tuy nhiên, lý thuyết tương Ďương Ricardo dựa trên nhiều giả Ďịnh phi thực tế, chẳng hạn như các hộ gia Ďình không Ďối mặt với các ràng buộc ngân sách. Kết quả là, mặc dù sự gia tăng nợ công có thể Ďưa Ďến tỷ lệ tiết kiệm tư nhân cao hơn, nhưng sẽ không Ďủ Ďể bù Ďắp hoàn toàn cho sự sụt giảm trong tiết kiệm quốc gia ròng. Trong trường hợp Ďó, tác Ďộng âm lên tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn có thể là rất nhỏ. Vì thế việc củng cố tài khóa (hạn chế thâm hụt ngân sách và giảm nợ công) không nhất thiết sẽ có tác Ďộng âm lên hoạt Ďộng kinh tế.
Quy mô tác Ďộng của việc củng cố tài khóa cũng tùy vào môi trường kinh tế và tiền tệ Ďược thực thi. Khi củng cố tài khóa Ďược thực hiện trong một nền kinh tế nhỏ, mở thì tác Ďộng ngắn hạn của nó nhỏ hơn nhiều trong trường hợp củng cố tài khóa TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Ďược thực hiện Ďồng thời ở nhiều quốc gia. Kế tiếp, nếu các ngân hàng trung ương có khả năng áp dụng một chính sách dễ dãi thì củng cố tài khóa ít tổn hại Ďến tăng trưởng. Cuối cùng, sự hiện diện của hệ thống tỷ giá hối Ďoái cố Ďịnh có xu hướng làm tăng tác Ďộng âm của củng cố tài khóa lên tăng trưởng, so với hệ thống tỷ giá hối Ďoái thả nổi Ďóng vai trò vùng Ďệm có ý nghĩa.
Tác động trong dài hạn Ngược lại với các tác Ďộng trong ngắn hạn, tác Ďộng dài hạn của việc củng cố tài khóa Ďể Ďảm bảo tính bền vững của tài trợ công là tích cực. Các tác Ďộng bao gồm sụt giảm lãi suất dài hạn do sự thu hẹp trong nguồn cung trái phiếu chính phủ trên thị trường và sụt giảm phần bù rủi ro. Ngoài ra, sự sụt giảm lãi suất phải trả từ củng cố tài khóa sẽ giúp các nguồn lực cho chi tiêu công hiệu quả hơn hoặc giảm bớt gánh nặng thuế.