Tổng quan nghiên cứu

Khai thác khoáng sản đá vôi trắng làm vật liệu xây dựng và nguyên liệu công nghiệp là ngành kinh tế kỹ thuật đóng vai trò trọng yếu trong tiến trình công nghiệp hóa. Tại Việt Nam, trữ lượng đá xây dựng có nguồn gốc trầm tích ước tính đạt khoảng 4,2 tỷ m3 trong tổng số hơn 3.000 mỏ khoáng sản trên cả nước. Nghệ An là một trong những địa bàn sở hữu tiềm năng khoáng sản đá vôi trắng lớn nhất khu vực Bắc Trung Bộ, tập trung chủ yếu tại các huyện Tân Kỳ và Quỳ Hợp. Nguồn đá tại đây có đặc tính kết tinh hoa chất lượng cao, phục vụ đắc lực cho công nghệ chế tác đá ốp lát cao cấp và sản xuất bột đá siêu mịn xuất khẩu với kim ngạch tăng trưởng đều qua các năm.

Tuy nhiên, hoạt động khai thác đá vôi trắng lộ thiên quy mô công nghiệp tại xã Tân Xuân, huyện Tân Kỳ đang tạo ra những xung đột môi trường gay gắt. Quá trình bóc lớp phủ thực vật, khoan nổ mìn và sơ chế cơ học làm biến dạng địa hình karst đặc trưng, phát sinh lượng đất đá thải lên đến 79.840 m3/năm và phát tán bụi diện rộng ra không gian sống lân cận. Nghiên cứu của học viên Nguyễn Trần Mạnh (chuyên ngành Khoa học Môi trường, Học viện Nông nghiệp Việt Nam) được thực hiện từ tháng 5/2016 đến tháng 6/2017 nhằm giải quyết vấn đề cấp thiết này.

Mục tiêu cốt lõi của đề tài là điều tra, định lượng hóa các nguồn phát thải chính ảnh hưởng đến môi trường không khí, nước, đất và cảnh quan sinh thái của mỏ khai thác đá vôi trắng xã Tân Xuân có tổng công suất 80.160 m3 đá nguyên khai/năm. Thông qua việc phân tích chuỗi dữ liệu thực nghiệm và ma trận tác động môi trường, đề tài thiết lập các chỉ tiêu kỹ thuật phục vụ việc hoạch định phương án phục hồi môi trường sau khai thác. Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học để doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường, đồng thời hỗ trợ cơ quan quản lý nhà nước xây dựng quy chế kiểm soát phát thải, hướng tới mục tiêu giảm thiểu từ 60% đến 80% lượng bụi phát tán và bảo vệ nguồn nước lưu vực suối Hao, suối Lội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên việc tích hợp Lý thuyết Đánh giá tác động môi trường (Environmental Impact Assessment - EIA) trong khai khoáng lộ thiên và Lý thuyết Phục hồi sinh thái cảnh quan vùng địa hình karst nhiệt đới gió mùa. Trong hoạt động khai khoáng, sự chuyển hóa vật chất và năng lượng diễn ra qua nhiều chu trình trung gian: từ khâu bóc tầng phủ, cắt tách khối đá, nổ mìn làm tơi, bốc xúc vận chuyển đến khâu đập nghiền tại xưởng sơ chế. Khung lý thuyết này cho phép mô hình hóa sự phát tán các chất ô nhiễm từ nguồn điểm (xưởng sơ chế, điểm nổ mìn) và nguồn đường (tuyến vận chuyển nội bộ và ngoại vi mỏ).

Các khái niệm chuyên ngành nền tảng được vận dụng xuyên suốt bao gồm:

  • Tải lượng phát thải ô nhiễm không khí: Xác định hàm lượng bụi tổng số (TSP) và các khí độc hại sinh ra từ quá trình đốt cháy nhiên liệu diesel và nổ mìn công nghiệp.
  • Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) và dòng thải rửa trôi: Đánh giá độ đục và sự bồi lắng cơ học của bùn đá mịn trong hệ thống thủy văn bề mặt.
  • Ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường: Cơ chế tài chính bảo đảm trách nhiệm hoàn nguyên sinh thái của chủ mỏ theo Luật Khoáng sản và Luật Bảo vệ Môi trường.
  • Địa mạo karst biến chất: Hệ thống địa hình đá vôi hoa hóa thuộc hệ tầng Bắc Sơn có độ dốc sườn phổ biến từ 20 đến 30 độ, dễ bị xói mòn và sạt lở khi mất thảm thực vật che phủ.

Để đánh giá mức độ suy thoái môi trường, các dữ liệu được đối chiếu trực tiếp với hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hiện hành, bao gồm QCVN 05:2013/BTNMT về chất lượng không khí xung quanh với giới hạn TSP trung bình 1 giờ là 0,3 mg/m3, QCVN 40:2011/BTNMT về nước thải công nghiệp và QCVN 08-MT:2015/BTNMT về chất lượng nước mặt. Tỷ số bóc đất đá của mỏ đạt xấp xỉ 0,99 m3 đất đá thải trên mỗi m3 đá thương phẩm, đặt ra yêu cầu phải kiểm soát chặt chẽ tải lượng chất thải rắn tích tụ trên sườn đồi.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng quy trình quan trắc đa thành phần tại hiện trường kết hợp phân tích phòng thí nghiệm theo tiêu chuẩn TCVN và ISO. Để phản ánh đầy đủ tác động của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa tại Nghệ An, nghiên cứu đã tiến hành lấy mẫu vào 2 đợt đặc trưng: đợt 1 đại diện cho mùa mưa vào ngày 15/8/2016 và đợt 2 đại diện cho mùa khô vào ngày 13/12/2016.

Cỡ mẫu và thiết kế mạng lưới quan trắc được thiết lập tại 13 vị trí không gian trọng yếu:

  • Môi trường không khí (7 mẫu): Gồm 2 mẫu không khí xung quanh tại khu dân cư thôn Xuân Yên cách mỏ khoảng 900 m (ký hiệu KK6, KK7) và 5 mẫu môi trường lao động nội mỏ tại vị trí khoan (KK1), khu vực cắt tách đá (KK2), đường vận chuyển đá (KK3), đường vận chuyển đất đá thải (KK4) và xưởng sơ chế bãi tập kết (KK5).
  • Môi trường nước (4 mẫu): Gồm 2 mẫu nước mặt tại hồ lắng nước mưa bãi tập kết (NM1) và hồ lắng bãi thải (NM2); 2 mẫu nước thải xưởng sơ chế trước xử lý (NT1) và sau xử lý (NT2).
  • Môi trường đất (2 mẫu): Gồm 1 mẫu tại chân bãi thải đất đá (Đ1) và 1 mẫu tại khu đất trồng trọt của người dân lân cận mỏ (Đ2).

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được lựa chọn nhằm bao quát trọn vẹn chuỗi công nghệ khai thác từ gương tầng mỏ đến điểm tiếp nhận môi trường dân sinh. Lý do lựa chọn các phương pháp phân tích chuẩn như TCVN 5067:1995 (cho bụi TSP), TCVN 7878:2010 (đo tiếng ồn đa kênh), TCVN 6625:2000 (đo TSS bằng màng lọc sợi thủy tinh) và SMEWW 3500-Mn (quang phổ hấp thụ nguyên tử cho kim loại nặng) là nhằm đảm bảo độ lặp lại cao, sai số dưới 5% và có giá trị pháp lý khi so sánh với quy chuẩn quốc gia. Bên cạnh đó, phương pháp chuyên gia và phương pháp đánh giá nhanh theo hệ số ô nhiễm của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) được sử dụng để ước tính tổng thải lượng khí thải từ 6 xe tải trọng 15 tấn và các máy móc thi công cơ giới.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu quan trắc hai mùa năm 2016 đã làm rõ những biến đổi vật lý và hóa học tại khu vực mỏ đá vôi trắng xã Tân Xuân:

Thứ nhất, ô nhiễm bụi lơ lửng và tiếng ồn là tác động môi trường cục bộ nghiêm trọng nhất. Tại các điểm sản xuất nội mỏ (KK1, KK5), nồng độ bụi TSP trong mùa khô đạt mức cao do hoạt động đập đá bằng 2 máy đập hàm kích thước 1200x900 mm và mài gọt đá khối. Tại khu dân cư thôn Xuân Yên nằm cách mỏ 900 m, nồng độ bụi đo được trong mùa khô cao hơn mùa mưa khoảng 28,5%, phản ánh sự phát tán bụi mạnh dưới tác động của gió mùa kết hợp với quá trình vận chuyển 160.000 m3 vật liệu mỗi năm. Hoạt động nổ mìn với định mức thuốc nổ ANFO khoảng 0,20 kg/m3 đá (tiêu thụ 34,2 kg thuốc nổ/ngày và 10.240 kg thuốc nổ/năm) tạo ra sóng xung kích và tiếng ồn vượt ngưỡng tiếp xúc cho phép tại gương khai thác.

Thứ hai, chất lượng nước thải sản xuất tại xưởng sơ chế có hàm lượng chất rắn lơ lửng rất lớn. Nước thải từ công đoạn cưa cắt đá khối trước xử lý (NT1) có nồng độ TSS cao do bột đá mịn siêu nhỏ bị cuốn trôi theo nước làm mát. Tuy nhiên, sau khi qua hệ thống lắng lọc tuần hoàn (NT2), nồng độ TSS giảm hơn 85%, đáp ứng tiêu chuẩn xả thải theo QCVN 40:2011/BTNMT. Nước mặt tại hồ lắng bãi thải (NM2) vào mùa mưa ghi nhận hiện tượng tích tụ bùn lắng cao khi lượng mưa tháng 10 đạt đỉnh 391 mm/tháng, gây áp lực bồi lắng cho khe Khe Lồ trước khi chảy ra suối Hao cách mỏ 1,5 km.

Thứ ba, khối lượng chất thải rắn phát sinh tạo sức ép vượt tải lên cảnh quan tự nhiên. Mỗi năm mỏ thải ra 79.840 m3 đất đá bóc và đá không đủ phẩm cấp trên tổng khối lượng đào xới 160.000 m3. Việc lưu giữ lượng chất thải rắn khổng lồ này trên sườn đồi dốc từ 20 đến 30 độ đã xóa bỏ thảm phủ thực vật rừng tái sinh, làm gia tăng nguy cơ trượt lở đất đá khi lượng mưa trung bình hàng năm đạt 1.685 mm.

Thứ tư, chất lượng môi trường đất trồng trọt lân cận (Đ2) chưa ghi nhận hiện tượng tích tụ kim loại nặng độc hại như chì hay thủy ngân vượt quy chuẩn. Dù vậy, lớp đất mặt nông nghiệp đang phải chịu lắng đọng bụi calcit kiềm tính từ các tuyến đường vận tải nội mỏ, nơi 10.228 lít dầu diesel cho máy gạt và 18.613 lít dầu diesel cho máy khoan, máy phát điện được đốt cháy hàng năm.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng ô nhiễm không khí tại mỏ bắt nguồn từ sự kết hợp giữa điều kiện khí tượng khô nóng trong mùa hè (nhiệt độ tối cao lên tới 43 độ C) và mật độ phương tiện vận tải hoạt động liên tục. Dù mỏ đã cải tiến công nghệ cưa tách đá khối bằng dây cắt kim cương công suất 60 HP, 40 HP kết hợp túi đẩy thủy lực hydro áp lực từ 0 đến 50 bar giúp giảm thiểu việc nổ mìn phá đá nguyên khối, nhưng công đoạn khoan đục lỗ đường kính 105 mm (chiều dài khoan 21,5 m cho mỗi khối đá 250 m3) và đập nhỏ đá làm bột calci cacbonat công suất 22.560 m3/năm vẫn tạo ra lượng bụi mịn phân tán rất lớn.

Khi thảo luận kết quả quan trắc, dữ liệu diễn biến nồng độ bụi TSP và tiếng ồn giữa 7 trạm quan trắc có thể được trình bày một cách trực quan thông qua biểu đồ cột kép so sánh hai mùa mưa - khô. Bảng ma trận Leopold mở rộng cũng được thiết lập để lượng hóa mức độ tác động tương hỗ giữa từng công đoạn khai khoáng (khoan lỗ, cắt dây, xúc bốc, vận tải) tới các chỉ tiêu môi trường vật lý và sức khỏe của 1.653 cư dân xã Tân Xuân.

So sánh với các nghiên cứu khai thác đá hoa tại huyện Quỳ Hợp lân cận, mô hình khai thác bán cơ giới tại xã Tân Xuân có tỷ lệ thu hồi đá khối đạt khoảng 36% (57.600 m3/năm), cao hơn mức bình quân của các mỏ khai thác đá xây dựng thông thường vốn phụ thuộc hoàn toàn vào nổ mìn vi sai. Tuy nhiên, nếu không có giải pháp gia cố chân bãi thải 79.840 m3/năm, nguồn bùn đất rửa trôi trong các trận mưa bão sẽ gây bồi lấp hệ thống thủy lợi suối Lội dài 18 km và suối Hao dài 28 km, đe dọa trực tiếp đến sinh kế canh tác 2.586 ha đất nông nghiệp của địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giảm thiểu các xung đột sinh thái và phục hồi cảnh quan khu vực khai trường, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật - quản lý đồng bộ:

Thứ nhất, nâng cấp hệ thống kiểm soát bụi và khí thải tại khu vực chế biến:

  • Động từ hành động: Lắp đặt hệ thống giàn phun sương dập bụi cao áp tự động xung quanh 2 trạm máy đập hàm 1200x900 mm và dọc theo 500 m tuyến đường vận chuyển chính; trải nhựa hoặc bê tông hóa đoạn đường tiếp giáp khu dân cư thôn Xuân Yên.
  • Chỉ số mục tiêu: Giảm nồng độ bụi TSP tại xưởng sơ chế xuống dưới 0,3 mg/m3 và giảm trên 70% lượng bụi cuốn phát tán vào khu dân cư.
  • Mốc thời gian: Hoàn thành thi công trong vòng 6 tháng đầu năm 2018.
  • Chủ thể thực hiện: Doanh nghiệp trực tiếp khai thác mỏ.

Thứ hai, hoàn thiện hạ tầng thu gom và xử lý nước mưa chảy tràn:

  • Động từ hành động: Xây dựng hệ thống mương gom nước chân tầng khai thác, gia cố 2 hồ lắng đa cấp dung tích tối thiểu 15.000 m3 tại bãi tập kết đá và bãi thải đất đá; bố trí rãnh nắn dòng ngoại vi để ngăn nước mặt từ sườn núi đổ dồn vào khai trường.
  • Chỉ số mục tiêu: Đảm bảo 100% nước mưa chảy tràn được lắng lọc cơ học, duy trì hàm lượng TSS nước xả thải ra suối Hao dưới 50 mg/l kể cả trong các tháng mưa cao điểm đạt 391 mm.
  • Mốc thời gian: Triển khai trước mùa mưa bão năm 2018 (tháng 4 - tháng 7/2018).
  • Chủ thể thực hiện: Ban Điều hành mỏ đá phối hợp với đơn vị tư vấn môi trường.

Thứ ba, thực hiện phương án cải tạo và phục hồi sinh thái cảnh quan mỏ:

  • Động từ hành động: Áp dụng phương pháp hoàn thổ cuốn chiếu, bạt giảm độ dốc các bờ moong khai thác về góc ổn định dưới 35 độ; vận chuyển lớp đất phủ hữu cơ lưu giữ ban đầu để san gạt phủ bề mặt bãi thải 79.840 m3/năm; trồng thảm thực vật hỗn giao gồm keo tai tượng và cỏ vetiver chống xói mòn.
  • Chỉ số mục tiêu: Phủ xanh tối thiểu 85% diện tích bãi thải sau khi đóng cửa mỏ, đưa tỷ lệ sống của cây lâm nghiệp đạt trên 80%.
  • Mốc thời gian: Thực hiện phân kỳ hàng năm theo tiến độ khai thác giai đoạn 2018 - 2025.
  • Chủ thể thực hiện: Doanh nghiệp khai thác phối hợp với Hợp tác xã Nông nghiệp xã Tân Xuân.

Thứ tư, tăng cường quản lý nhà nước và thanh tra tuân thủ:

  • Động từ hành động: Rà soát, truy thu 100% tiền ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường theo khối lượng đất đá bóc thực tế; tổ chức quan trắc môi trường định kỳ 4 đợt/năm; lắp đặt trạm cân điện tử và camera giám sát tải trọng tại cổng mỏ.
  • Chỉ số mục tiêu: Triệt để chấm dứt tình trạng xe chở đá quá tải làm hư hỏng 16 km đường cấp phối; xử phạt 100% các vi phạm về vượt ngưỡng phát thải.
  • Mốc thời gian: Thực hiện thường xuyên từ quý I/2018.
  • Chủ thể thực hiện: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nghệ An phối hợp UBND huyện Tân Kỳ và UBND xã Tân Xuân.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng trọng điểm:

Thứ nhất, Cơ quan Quản lý Nhà nước về Tài nguyên và Môi trường (Sở TN&MT Nghệ An, Phòng TN&MT huyện Tân Kỳ, UBND xã Tân Xuân):

  • Lợi ích: Tiếp cận cơ sở dữ liệu quan trắc thực địa và quy trình tính toán định mức bóc thải mỏ đá vôi trắng để thẩm định Báo cáo ĐTM, phê duyệt phương án đóng cửa mỏ và tính toán chính xác số tiền ký quỹ phục hồi môi trường.
  • Trường hợp sử dụng: Ứng dụng xây dựng quy chế quản lý khai thác khoáng sản bền vững và kế hoạch giám sát khí thải định kỳ trên địa bàn miền Tây Nghệ An.

Thứ hai, Chủ đầu tư và Doanh nghiệp khai thác khoáng sản đá ốp lát:

  • Lợi ích: Tiếp cận quy trình kỹ thuật tối ưu hóa khâu cưa cắt dây kim cương kết hợp túi đẩy khí nén - thủy lực, giúp nâng cao sản lượng thu hồi đá khối đạt 57.600 m3/năm, đồng thời cắt giảm chi phí xử lý sự cố môi trường.
  • Trường hợp sử dụng: Ứng dụng trong việc thiết kế layout mỏ, quy hoạch bãi thải đất đá 79.840 m3 và vận hành trạm sơ chế đạt chuẩn an toàn vệ sinh lao động.

Thứ ba, Kỹ sư Môi trường và Các tổ chức tư vấn lập hồ sơ môi trường:

  • Lợi ích: Sử dụng trọn bộ khung phương pháp luận quan trắc hai mùa, phương pháp lấy mẫu chuẩn TCVN và ma trận đánh giá tác động đặc thù cho các dự án khai thác đá biến chất vùng karst.
  • Trường hợp sử dụng: Làm tài liệu tham chiếu chuẩn khi lập Báo cáo Đánh giá tác động môi trường và Phương án Cải tạo phục hồi môi trường cho các mỏ đá trên toàn quốc.

Thứ tư, Giảng viên, Học viên cao học và Sinh viên các ngành Khoa học Môi trường, Kỹ thuật Mỏ, Địa chất:

  • Lợi ích: Bổ sung nguồn tư liệu thực chứng về cân bằng vật chất, tiêu hao nhiên liệu (xăng dầu, điện năng 482.559 kWh/năm) và cơ chế phát tán bụi trong môi trường mỏ lộ thiên.
  • Trường hợp sử dụng: Làm tài liệu giảng dạy, học tập chuyên đề về Quản lý Môi trường Công nghiệp Khai khoáng và Phục hồi Sinh thái Cảnh quan.

Câu hỏi thường gặp

Yếu tố gây tác động môi trường lớn nhất tại mỏ đá vôi trắng Tân Xuân là gì?

Yếu tố gây tác động nghiêm trọng nhất được xác định là bụi phát sinh từ các khâu khoan đá, nổ mìn, bốc xúc 160.000 m3 vật liệu và đập sơ chế tại xưởng. Trong mùa khô, nồng độ bụi TSP tại khu vực sơ chế tăng cao, kết hợp cùng 6 xe tải trọng 15 tấn vận chuyển liên tục làm gia tăng nồng độ bụi tại khu dân cư thôn Xuân Yên cách mỏ 900 m lên mức đáng kể.

Công nghệ cưa dây kim cương và túi hydro mang lại ưu thế gì về mặt môi trường?

So với phương pháp nổ mìn phá đá truyền thống, việc sử dụng máy cắt dây 60 HP kết hợp túi đẩy thủy lực hydro áp lực từ 0 đến 50 bar giúp giảm thiểu từ 50% đến 70% lượng đá vỡ vụn và bụi phát tán. Công nghệ này bảo toàn cấu trúc đá khối đạt 57.600 m3/năm, đồng thời triệt tiêu rung chấn cục bộ và khói độc sinh ra từ 10.240 kg thuốc nổ mỗi năm.

Nước thải sản xuất tại mỏ được xử lý theo quy trình nào để đạt quy chuẩn xả thải?

Nước thải làm mát từ quá trình cưa cắt đá chứa hàm lượng chất rắn lơ lửng cao được thu gom qua hệ thống mương dẫn về bể lắng sơ cấp, sau đó chuyển qua hồ lắng thứ cấp đa ngăn để loại bỏ hạt bột đá mịn. Nước sau xử lý (NT2) đạt quy chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT với độ trong cao và được bơm tái tuần hoàn 100% phục vụ làm mát, giúp tiết kiệm nguồn nước cấp 11.925 m3/năm.

Người dân thôn Xuân Yên sinh sống gần mỏ phải đối mặt với những nguy cơ gì?

Khoảng cách từ mỏ đến khu dân cư là 900 m, người dân thôn Xuân Yên có mức thu nhập bình quân 1,2 triệu đồng/tháng chịu ảnh hưởng bởi bụi cuốn từ các tuyến đường đất và đường cấp phối. Ngoài ra, tiếng ồn từ phương tiện vận tải nặng và nguy cơ suy giảm nguồn nước phục vụ 172 ha lúa khi hồ lắng bị bồi lấp vào mùa mưa là những vấn đề xã hội cần ưu tiên giải quyết.

Luận văn đề xuất phương án hoàn thổ sinh thái sau khai thác như thế nào?

Luận văn đề xuất mô hình hoàn thổ phân tầng cuốn chiếu: san gạt giảm độ dốc bãi thải 79.840 m3/năm xuống dưới 35 độ, tạo các bậc thang chống xói mòn, phủ lại lớp đất dày từ 0,3 đến 0,5 m và trồng cây lâm nghiệp bản địa (keo lá tràm, keo tai tượng) kết hợp cỏ vetiver để tái thiết cảnh quan rừng nhiệt đới, bảo đảm tính bền vững lâu dài.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện hiện trạng phát tán chất thải của mỏ đá vôi trắng Tân Xuân với quy mô khai khoáng 80.160 m3 đá nguyên khai và 79.840 m3 đất đá thải mỗi năm.
  • Định lượng thành công sự phân hóa nồng độ bụi TSP và tiếng ồn giữa hai mùa mưa - khô tại 7 trạm quan trắc, xác định bụi sơ chế và vận chuyển là điểm nghẽn môi trường trọng điểm.
  • Chứng minh tính ưu việt của giải pháp công nghệ cắt dây kim cương kết hợp túi thủy lực trong việc nâng cao tỷ lệ thu hồi đá khối đạt 57.600 m3/năm và giảm thiểu chất thải rắn.
  • Đề xuất thành công hệ thống giải pháp công trình và phi công trình, trọng tâm là mô hình hồ lắng đa tầng 15.000 m3 và phủ xanh sinh thái bãi thải đạt tỷ lệ sống trên 80%.
  • Xây dựng bộ chỉ số kinh tế - kỹ thuật hoàn chỉnh phục vụ công tác giám sát môi trường và hoàn thiện phương án ký quỹ phục hồi mỏ cho khu vực Bắc Trung Bộ.

Các cơ quan quản lý và doanh nghiệp khai khoáng cần khẩn trương hoàn thiện lộ trình lắp đặt trạm phun sương cao áp và nạo vét hồ lắng trong vòng 6 tháng tới. Hãy liên hệ các chuyên gia môi trường để áp dụng ngay bộ giải pháp phục hồi cảnh quan karst bền vững cho mỏ đá của bạn.