chương 1 tác giả đã trình bày những nội dung tổng quát nhất liên quan đến nghiên cứu này. Trước tiên, tác giả trình bày về tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. Tiếp đó giả cũng đã trình bày phần mục tiêu nghiên cứu cũng như đối tượng và phạm vi nghiên cứu hướng tới. Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả nêu sơ bộ những phương pháp nghiên cứu cần thiết phù hợp với đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Từ những kết quả nghiên cứu đạt được, tác giả đã đưa ra những gợi ý về mặt chính sách và nêu một số hạn chế trong đề tài cũng như hướng nghiên cứu mới trong tương lai. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC LÝ THUYẾT TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 2. Khái niệm về tăng trưởng kinh tế Khái niệm tăng trưởng kinh tế đã được hình thành từ rất lâu trong lịch sử kinh tế học. Đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về tăng trưởng, có thể kể đến một số khái niệm tiêu biểu như sau: “Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng một cách bền vững bình quân đầu người hay sản lượng trên mỗi lao động” (Kuznets, 1959).
Hay North và Thomas (1973) phát biển “tăng trưởng kinh tế chỉ xảy ra nếu sản lượng tăng nhanh hơn dân số”. Hay “Tăng trưởng kinh tế bao hàm ý nghĩa là tổng thu nhập trong nền kinh tế phải gia tăng nhanh hơn tốc độ tăng dân số, tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự gia tăng mức sống vật chất của người dân” (Nguyễn Trọng Hoài, 2013). Tăng trưởng kinh tế liên quan đến sự gia tăng của thu nhập thực tế của quốc gia, tổng sản phẩm trong nước, hoặc thu nhập bình quân đầu người. Thu nhập quốc gia hay sản phẩm thường được thể hiện trong mục của tổng sản lượng giá trị tăng thêm của nền kinh tế trong nước được gọi là tổng sản phẩm quốc nội, khi GDP của một quốc gia tăng lên, các nhà kinh tế đề cập đến nó như tăng trưởng kinh tế (Conteras, 2007).
Spencer và cộng sự (1993) cũng xác định tăng trưởng kinh tế là tỉ lệ gia tăng toàn nền kinh tế - sản lượng thực tế, việc làm, thu nhập trên toàn thời gian. Nói cách khác, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng lao động, sản lượng của toàn nền kinh tế theo giá cố định. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Johnson (2000) định nghĩa tăng trưởng kinh tế là một phần của lý thuyết kinh tế để giải thích tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế theo thời gian, được đo lường bằng tỷ lệ phần trăm tăng trưởng của thu nhập quốc gia như tổng sản phẩm quốc gia (GNP) hoặc (GDP) sản phẩm quốc nội có điều chỉnh thống kê thích hợp để giảm các ảnh hưởng về lạm phát. Samuelson và cộng sự (2001) xác định tăng trưởng kinh tế là sự mở rộng của GDP tiềm năng của một quốc gia hoặc sản lượng quốc gia.
Nghĩa là tăng trưởng kinh tế xảy ra khi ranh giới khả năng sản xuất của một quốc gia dịch chuyển ra nước ngoài. Nghĩa là, tổng sản phẩm quốc nội được điều chỉnh theo lạm phát. Có thể thấy mỗi nhà kinh tế học đều đưa ra các quan điểm của mình về tăng trưởng nhưng tựu chung lại tăng trưởng kinh tế chính là sự gia tăng giá trị hàng hóa và dịch vụ được sản xuất bởi một nền kinh tế, nó có thể được đo lường bằng sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội. Tăng trưởng kinh tế là thước đo cho sự thành công trong quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước.
Ngoài những ý nghĩa tích cực của khái niệm tăng trưởng kinh tế cũng còn một số quan điểm chỉ trích khái niệm tăng trưởng kinh tế. Cụ thể tăng trưởng kinh tế chỉ là sự gia tăng của hàng hoá dịch vụ, nếu dân số tăng lên với cùng một tỉ lệ thì thu nhập bình quân đầu người không đổi. Sự gia tăng hàng hoá dịch vụ chưa chắc đã phục vụ cho lợi ích của đại đa số dân chúng mà có thể được sử dụng để trang bị thiết bị quân sự, xây dựng công trình kiến trúc cho chính phủ. Ngoài ra cách thức tăng trưởng kinh tế cũng không được nêu rõ và nó có thể là kết quả của việc tăng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 vốn, loại bỏ bớt lao động, và như vậy dân sẽ nghèo hơn.
Thêm vào đó thu nhập bình quân đầu người chỉ là con số trung bình cho biết thu nhập của mọi người đã tăng ở tỉ lệ đó, phân phối thu nhập có thể bị sai lệch, thu nhập có thể phân phối nhiều hơn cho người giàu. Vì vậy để nền kinh tế phát triển có ý nghĩa, sự gia tăng sản lượng và thu nhập phải công bằng và phân phối rộng rãi đến đa số người dân. Điều này cần được sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách tối cao (Elwell, 2006). Như vậy tăng trưởng kinh tế ngoài việc thể hiện mặt tích cực thì ngay trong nội tại cũng có một số điểm hạn chế.
Tuy nhiên các khái niệm của tăng trưởng kinh tế dù bị chỉ trích trên một số lý do nhưng nó vẫn là một chỉ số tốt để đánh giá nền kinh tế (Kuznets, 1959).Các mô hình tăng trưởng kinh tế Sau khi nghiên cứu khái niệm tăng trưởng kinh tế, các nhà kinh tế học đã đưa ra rất nhiều mô hình tăng trưởng kinh tế. Trong phạm vi bài nghiên cứu này trình bày bốn mô hình tiêu biểu là: mô hình cổ điển, mô hình tăng trưởng trường phái Keynes, mô hình tân cổ điển và mô hình tăng trưởng nội sinh.Mô hình cổ điển Được hình thành cách đây 200 năm bởi Adam Smith và Ricardo, mô hình này có những nội dung căn bản sau: Adam Smith (1776) giải thích rằng đầu ra phụ thuộc vào số lượng đầu vào (lao động, vốn và đất đai) và tốc độ tăng trưởng sản lượng được xác định bởi sự tăng trưởng dân số, gia tăng đầu tư, đất đai, tăng trưởng năng suất lao động. Các yếu tố chính của tăng trưởng kinh tế đã phân công lao động, dẫn đến sự tăng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 trưởng sản lượng, tiến bộ kỹ thuật và tích lũy. Theo Smith, phân công lao động bị hạn chế bởi kích thước của thị trường.
Nếu sự phân chia lao động tăng hơn đầu ra, sau đó nó làm tăng kích thước thị trường và gây ra phân chia thêm lao động và kết quả là mang lại sự tăng trưởng về kinh tế hơn nữa. Trong lý thuyết bàn tay vô hình năm 1776, Adam Smith cho rằng thúc đẩy cạnh tranh tự do trong đó có cơ chế tự điều chỉnh có thể dẫn đến phân bổ nguồn lực tối ưu. Ông đã nhận thức được một nền kinh tế có thể hoạt động chỉ khi khuôn khổ xã hội, thể chế và pháp luật tồn tại và hoạt động. Ông chấp thuận mức can thiệp cần thiết của nhà nước vào nền kinh tế thị trường, ví dụ, bảo hộ thuế quan cho các ngành còn non yếu.
Ông cũng xác định khả năng thay thế vai trò của nhà nước trong lĩnh vực an ninh, công lý và hoạt động công cộng. David Ricardo (1817) và Thomas Robert Malthus (1798) đã kế thừa lý thuyết của Adam Smith trong nửa đầu của thế kỷ 19. Thomas Robert Malthus cho rằng dân số tăng theo cấp số nhân, còn sản lượng tăng theo cấp số cộng do bị hạn chế bởi tài nguyên thiên nhiên. Nếu dân số tiếp tục tăng thì sẽ xảy ra nạn đói, dịch bệnh và chiến tranh dẫn tới dân số giảm nên trong dài hạn mức sống và thu nhập bình quân đầu người chỉ ở mức vừa đủ sống.
David Ricardo xác định yếu tố của tăng trưởng là đất đai, lao động và vốn trong đó đất đai là quan trọng nhất, là giới hạn của sự tăng trưởng.Mô hình tăng trưởng trường phái Keynes Theo Keynes muốn tăng thu nhập quốc dân (sản lượng quốc gia) thì phải gia tăng đầu tư. Ông đã nghiên cứu mối quan hệ giữa gia tăng đầu tư và gia tăng sản lượng quốc gia và đưa ra khái niệm "số nhân đầu tư." Số nhân đầu tư (k) thể hiện mối quan hệ giữa gia tăng đầu tư với gia tăng thu nhập. Nó cho chúng ta biết rằng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 khi có một lượng thêm về đầu tư tổng hợp, thì thu nhập sẽ tăng thêm một lượng bằng k lần mức gia tăng đầu tư. Mô hình số nhân của ông là: ∆ଢ଼ k= (1) ∆୍ Suy ra : ∆ Y= k.
Theo Keynes thu nhập được chia thành tiêu dùng và tiết kiệm, đồng thời thu nhập cũng có thể chia thành tiêu dùng và đầu tư. Từ đó ông cho rằng Tiết kiệm (S) = Đầu tư (I). Đây cũng là mô hình tăng trưởng kinh tế của Keynes. Theo Keynes, mỗi sự gia tăng của đầu tư đều kéo theo cầu bổ sung về công nhân và tư liệu sản xuất, có nghĩa là việc làm gia tăng, thu nhập gia tăng.
Thu nhập tăng sẽ là tiền đề cho tăng đầu tư mới. Như vậy, số nhân đầu tư có tác động dây chuyền, nó khuyếch đại thu nhập quốc dân. Nó chỉ rõ sự gia tăng đầu tư sẽ kéo theo sự gia tăng thu nhập lên bao nhiêu. Keynes sử dụng khái niệm số nhân để chứng minh những kết quả tích cực của chính sách đầu tư nhà nước vào các công trình công cộng để giải quyết việc làm.
Tiếp theo 2 nhà kinh tế học Roy. Harrod (1939) and Evsey Domar (1946) đã đưa đến kết luận là tỷ lệ tăng trưởng của sản lượng được xác định bởi tỷ lệ tiết kiệm trong nước và tỷ lệ sản lượng vốn quốc gia. Mô hình tăng trưởng của Harrod- Domar cho thấy có sự tồn tại của một mối quan hệ trực tiếp giữa tiết kiệm và tỷ lệ tăng trưởng kinh tế. Mô hình giả định rằng tăng trưởng kinh tế là kết quả trực tiếp của tích lũy vốn trong các hình thức tiết kiệm.
Ngoài ra, mô hình tăng trưởng Harrod - Domar giả định hệ số hàm sản xuất cố định và lợi nhuận cố định theo quy mô. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.