CHƯƠNG 1 LUẬN CỨ KHOA HỌC VỀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN TÍN DỤNG TỪ QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ SIÊU NHỎ 1. Doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ 1. Khái niệm Có nhiều cách hiểu về doanh nghiệp vì tiếp cận doanh nghiệp ở những góc độ khác nhau. Khái niệm về doanh nghiệp cũng như bao khái niệm khác được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau.
Theo Nguyễn Thành Độ và Nguyễn Ngọc Huyền (2009), khái niệm doanh nghiệp bắt đầu từ phạm trù xí nghiệp. Đó là một đơn vị kinh tế được tổ chức một cách có kế hoạch để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm/dịch vụ. Xí nghiệp là những đơn vị kinh tế vừa phụ thuộc, vừa không phụ thuộc vào cơ chế kinh tế. Xí nghiệp là mô hình không phụ thuộc vào cơ chế kinh tế với ba đặc trưng: (1) Sự kết hợp các yếu tố sản xuất để tạo ra hàng hóa/dịch vụ, (2) Nguyên tắc “cân bằng tài chính” và (3) Nguyên tắc “hiệu quả”.
Xí nghiệp là tổ chức phụ thuộc vào cơ chế kinh tế khi xí nghiệp vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa và cơ chế thị trường. Trên cơ sở đó, khái niệm về doanh nghiệp như sau: “Doanh nghiệp là một xí nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường. Mỗi doanh nghiệp đều là xí nghiệp nhưng không có nghĩa là xí nghiệp là doanh nghiệp” (Nguyễn Thành Độ và Nguyễn Ngọc Huyền, 2009) Với cách tiếp cận theo nghĩa tổ chức doanh nghiệp được xem là nhóm người hoạt động cùng nhau, có chung mục đích và có các nguyên tắc quản trị nhất định, đó là các chuẩn mực điều hành tổ chức hướng đến mục tiêu đã đề ra. Các tác giả cho rằng, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế hoạt động trong cơ chế thị trường.
Hạn chế của khái niệm này là dựa trên cơ sở định nghĩa tổ chức cần điều kiện tối thiểu hai người. Như vậy, vấn đề cốt yếu của doanh nghiệp theo nghĩa xí nghiệp hay tổ chức là nó hoạt động trong cơ chế thị trường. Trong cơ chế thị trường, giá cả sẽ là cơ sở để 9 doanh nghiệp Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Và sản xuất cho ai? với mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận. Mọi hoạt động sản xuất và trao đổi hàng hóa giữa doanh nghiệp và khách hàng được vận hành qua quan hệ quan hệ Cung- Cầu.
Động lực lợi nhuận sẽ chỉ huy hoạt động của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp tự quyết định hình thức SXKD, tự chịu trách nhiệm, lãi hưởng, lỗ chịu, chấp nhận cạnh tranh là những đặc trưng của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường.Francois Peroux, cho rằng “Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy”. Doanh nghiệp ở đây được tiếp cận theo chức năng. Theo cách tiếp cận này, các doanh nghiệp được thành lập là để kinh doanh với mục đích tìm kiếm trên cơ sở đáp ứng lợi ích cho người tiêu dùng.
Trong thực tiễn, có những doanh nghiệp thành lập không vì lợi nhuận, đó là doanh nghiệp công ích/doanh nghiệp xã hội, do nhà nước là chủ sở hữu, mục tiêu của doanh nghiệp này là vì lợi ích xã hội, đem lại lợi ích cho đại bộ phận dân cư. Theo cách tiếp cận phát triển, “Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải. Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được.”9 Với cách tiếp cận này, doanh nghiệp sinh ra để tạo ra “của cải vật chất cho xã hội”. Doanh nghiệp sinh ra, phát triển cùng với những thành công và những thất bại, và có thể không tồn tại.
Trong thực tiễn, những hoạt động của doanh nghiệp không riêng lẻ hay mang tính cá biệt, mà các hoạt động diễn ra liên tục và chuyên nghiệp. Với cách tiếp cận này thì một đơn vị kinh tế hoạt động kinh doanh, cung cấp dịch vụ cho người tiêu dùng mang tính chuyên nghiệp, liên tục và dài hạn mới được coi là một doanh nghiệp. Về bản chất thì khái niệm doanh nghiệp là chỉ các mô hình doanh nghiệp, trong đó công ty là một mô hình doanh nghiệp phổ biến hiện nay. Ở của các quốc gia phát triển, công ty là tổ chức được thành lập với vốn góp, các thành viên chịu trách nhiệm trong giới hạn vốn góp của họ.
Công ty hoạt động trên cơ sở thống nhất về quản lý 9 Trích Kinh tế doanh nghiệp, D.A Caillat- Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội 1992 10 điều hành, có thể huy động vốn bằng phát hành trái phiếu và được thừa nhận tư cách pháp nhân. Dù ở góc độ nào thì doanh nghiệp cũng là một tổ chức và mục tiêu của nó là kinh doanh để tìm kiếm lợi ích. Như vậy có thể hiểu doanh nghiệp là một công ty hoạt động với mục tiêu là kiếm lời. Dưới góc độ pháp lý, “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, có tài sản, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh10”.
Trong thực tế, các doanh nghiệp thành lập là để kinh doanh kiếm lời. Các doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế “vị lợi”. Tuy có những cách hiểu khác nhau về doanh nghiệp, nhưng trong các cách hiểu đó có những điểm chung đó là doanh nghiệp được thành lập là để tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở thỏa mãn người tiêu dùng. Tác giả cho rằng: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế được thành lập theo qui định của luật pháp với mục đích là kinh doanh trên cơ sở thỏa mãn lợi ích người tiêu dùng, qua đó tối đa hóa lợi nhuận, đồng thời thực hiện trách nhiệm với cộng đồng nơi doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh.
Đặc điểm của doanh nghiệp Các loại hình doanh nghiệp có những đặc điểm sau: Một là, doanh nghiệp “có tính hợp pháp”. Tính hợp pháp được biểu hiện qua việc doanh nghiệp phải nộp hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp đến cơ quan chức năng để được thành lập. Khi có giấy chứng nhận thành lập doanh nghiệp thì doanh nghiệp có “tư cách pháp nhân” để thực hiện các hoạt động SXKD và doanh nghiệp phải cam kết với các việc làm bằng tài sản của doanh nghiệp. Tính hợp pháp được biểu hiện qua việc doanh nghiệp xin thành lập để xác nhận sự hiện diện của doanh nghiệp về luật pháp.
Doanh nghiệp phải cam kết về nghĩa vụ tài chính, các khoản nợ khi phá sản/giải thể. Như vậy, để có tư cách pháp nhân tham gia hoạt động SXKD thì doanh nghiệp phải đăng ký một cách hợp pháp. Thủ tục đăng ký mang tính “hai chiều”, để thành lập, doanh nghiệp phải nộp hồ sơ xin phép, nếu cơ quan có thẩm quyền chấp thuận sẽ cấp phép cho doanh nghiệp thành lập. Khi đó doanh nghiệp sẽ được pháp luật bảo vệ 10 Khoản 10, Điều 4, Luật doanh nghiệp 2020, có hiệu lực từ ngày 1/1/2021 11 những cũng chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Như vậy, giấy phép thành lập doanh nghiệp chính là giấy khai sinh của doanh nghiệp. Hai là, doanh nghiệp hoạt động thường xuyên, liên tục và lâu dài với định hướng tối đa hóa lợi nhuận. Các doanh nghiệp thành lập là nhằm tìm kiếm lợi ích qua việc phục vụ người tiêu dùng. Nhưng cũng có doanh nghiệp xã hội hoạt động phi lợi nhuận mà vì cộng đồng, vì xã hội, vì môi trường.
Ba là, tính tổ chức của doanh nghiệp khi hoạt động. Điều này được biểu hiện qua cơ chế điều hành, bộ máy nhân sự. Các doanh nghiệp đều có tính tổ chức, cơ cấu nhân sự, bộ máy quản trị, trụ sở giao dịch và tài sản kèm theo đó là tư cách pháp nhân/trừ doanh nghiệp tư nhân. Vốn của doanh nghiệp Trong hoạt động SXKD, vốn là vấn đề rất quan trọng nên các doanh nghiệp luôn tìm cách để có đủ vốn và dùng nó hiệu quả.
Ở mỗi góc độ sẽ có có cách nhìn về vốn không giống nhau. Vốn của doanh nghiệp là một “quỹ tiền tệ đặc biệt” dùng cho SXKD, nghĩa là để tích lũy chứ không phải để tiêu dùng. Trong KTTT, “Vốn được hiểu là toàn bộ những giá trị ứng ra ban đầu vào các quá trình tiếp theo của doanh nghiệp” (Nguyễn Đình Luận, 2016). Như vậy, vốn ngoài là yếu tố đầu vào, nó còn tham gia vào quá trình SXKD trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
Theo quan điểm thống kê/ kế toán, vốn được biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản mà doanh nghiệp đang nắm giữ, có khả năng huy động và dùng cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp để sinh lời. Vốn là tài sản được biểu hiện bằng tiền và tài sản là hình thức hiện vật của vốn ở thời điểm nhất định. Trên góc độ yếu tố sản xuất thì K.Mark cho rằng: “Vốn chính là tư bản, là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất”.Mark cũng cho rằng chỉ có khu vực sản xuất mới tạo ra “giá trị thặng dư” cho nền kinh tế.Samuelson, thì cho rằng: Đất đai, lao động là các yếu tố đầu vào, còn vốn và hàng hoá vốn là thành quả của quá trình sản xuất. Vốn bao gồm những hàng hoá lâu bền được sản xuất ra và được dùng làm đầu vào cho quá trình sản xuất sau đó.
Đặc điểm căn bản hàng đầu của hàng hoá vốn là vừa là đầu ra, vừa là đầu vào của quá trình sản xuất. Để có các đầu vào cho SXKD, các doanh nghiệp phải có một lượng tiền ứng trước được gọi là vốn của doanh nghiệp. Có thể hiểu, Vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của vật tư, tài sản được đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh của 12 doanh nghiệp để tạo ra hàng hóa/dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng nhằm mang lại lợi ích cho doanh nghiệp. Đặc điểm của vốn Thứ nhất, vốn là “hàng hoá đặc biệt”, vì trước tiên, vốn có giá trị và giá trị sử dụng.
Giá trị của vốn biểu hiện qua khoản phí mà doanh nghiệp đã chi ra để có nó. Giá trị sử dụng của vốn biểu hiện qua việc mua sắm tư liệu sản xuất, hàng hoá phục vụ cho SXKD. Thứ hai: Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định chứ không có đồng vốn vô chủ.