Chương 1 tác giả đã trình bày một số nghiên cứu trong nước và trên thế giới về hệ thống KSNB nói chung và hệ thống KSNB theo hướng QTRR nói riêng. Từ đây tác tác giả đã xác định khe hổng của những nghiên cứu trước làm cơ sở để lựa chọn hướng nghiên cứu cho mình và chứng minh tính cấp thiết của đề tài mà mình lựa chọn. Qua việc tìm hiểu các nghiên cứu trước tác giả đã kế thừa được phương pháp nghiên cứu định lượng (phương pháp nghiên cứu, cách xây dựng thang đo, thiết kế bảng hỏi,…) để xây dựng mô hình đánh giá mức độ tác động của từng yếu tố đến tính hữu hiệu QTRR tại các DN du lịch trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.
Tổng quan về KSNB 2. Lược sử về quá trình hình thành và phát triển của KSNB - Giai đoạn sơ khai Ban đầu, kiểm toán viên quan tâm đến hệ thống KSNB của đơn vị để giảm thiểu công việc của mình, mà hình thức ban đầu là kiểm soát tiền. Năm 1905, xuất hiện từ KSNB trong “lý thuyết và thực hành kiểm toán” của Robert Montgomery. Năm 1929, trong một công bố của Cục Dự trữ Liên Bang Hoa Kỳ, KSNB được đề cập chính thức, theo đó, KSNB được định nghĩa là công cụ để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép của sổ sách.
Năm 1936, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) đã định nghĩa về KSNB là các biện pháp và cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép sổ sách. - Giai đoạn hình thành Năm 1949, AICPA công bố công trình nghiên cứu về KSNB, theo đó KSNB được định nghĩa: “KSNB là cơ cấu tổ chức và các biện pháp, cách thức liên quan được chấp nhận và thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tài sản, kiểm tra sự chính xác và đáng tin cậy của số liệu kế toán, thúc đẩy hoạt động có hiệu quả, khuyến khích sự tuân thủ các chính sách của người quản lý”. Tiếp đó, AICPA đã ban hành và soạn thảo nhiều chuẩn mực kiểm toán đề cập đến những khái niệm và khía cạnh khác nhau của KSNB, như Thủ tục kiểm soát SAP 29(1958), SAP 33 (1962), SAP 54 (1972), SAS 1 (1973). - Giai đoạn phát triển 5 tổ chức kế toán lớn gồm Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ, Hiệp hội kế toán Hoa Kỳ, Hiệp hội quản trị viên tài chính, Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ, Hiệp hội kế toán viên quản trị đã tài trợ cho Ủy ban thuộc hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận trên BCTC (Ủy ban Treadway, 1985) để nghiên cứu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 các yếu tố gian lận trên BCTC và kiến nghị giảm các gian lận trên BCTC.
Theo đó, Ủy ban COSO đã được thành lập (1985). COSO đã sử dụng chính thức từ KSNB thay vì KSNB về kế toán, đến năm 1992 Báo cáo COSO được ban hành. Đặc điểm nổi bật của báo cáo COSO là một tầm nhìn rộng và mang tính quản trị, trong đó KSNB không còn chỉ là một vấn đề liên quan đến BCTC mà được mở rộng cho các lĩnh vực hoạt động và tuân thủ. Theo Báo cáo COSO 1992, KSNB gồm 5 thành phần: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, và giám sát.
- Giai đoạn hiện đại Sau khi báo cáo COSO được ban hành vào năm 1992, tiếp theo đó, hàng loạt nghiên cứu khác tiếp tục phát triển về KSNB trong nhiều lĩnh vực khác, cụ thể: Phát triển về QTRR Năm 2011, hệ thống QTRR DN (ERM – Enterprise Risk Management Framework) hình thành trên cơ sở Báo cáo COSO 1992, dự thảo được công bố tháng 7 năm 2003, được ban hành chính thức năm 2004, theo đó ERM gồm 8 yếu tố là môi trường nội bộ, thiết lập mục tiêu, nhận diện sự kiện, đánh giá rủi ro, phản ứng rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông và giám sát. Phát triển cho các DN nhỏ Năm 2006, cách thức áp dụng KSNB trong các công ty cổ phần (smaller publicly traded companies) được ban hành với tên gọi KSNB đối với BCTC – hướng dẫn cho các công ty đại chúng quy mô nhỏ. Đặc điểm của báo cáo này là tập trung hướng dẫn cho phù hợp với điều kiện của các công ty nhỏ hơn là việc tuân thủ đạo luật SOX. Phát triển theo hướng công nghệ thông tin Năm 1996, bản tiêu chuẩn “Các mục tiêu kiểm soát trong công nghệ thông tin và các lĩnh vực liên quan” (COBIT – Control objectives for Information and Related Technology) do Hiệp hội về kiểm soát và kiểm toán hệ thống thông tin (ISACA) ban hành.
COBIT nhấn mạnh đến kiểm soát trong môi trường tin học, bao TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 gồm những lĩnh vực hoạch định và tổ chức, mua và triển khai, phân phối và hỗ trợ, giám sát. Phát triển theo hướng kiểm toán độc lập Các chuẩn mực kiểm toán của Hoa Kỳ cũng chuyển sang sử dụng báo cáo COSO làm nền tảng đánh giá hệ thống KSNB: SAS 78 (1995): Xem xét KSNB trong kiểm toán BCTC (điều chỉnh SAS 55). Các định nghĩa và thành phần trong COSO 1992 được đưa vào chuẩn mực này. SAS 94 (2001): Ảnh hưởng của công nghệ thông tin đến việc xem xét KSNB trong kiểm toán BCTC.
Hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế cũng sử dụng báo cáo COSO khi yêu cầu xem xét hệ thống KSNB trong kiểm toán BCTC, cụ thể: IAS 35 – Hiểu biết về tình hình kinh doanh, môi trường hoạt động đơn vị và đánh giá rủi ro sai sót trọng yếu đã định nghĩa KSNB và xác định các nhân tố cấu thành KSNB dựa trên báo cáo COSO 1992; IAS 265 thông báo về những khiếm khuyết của KSNB đã xác định việc quan tâm của kiểm toán viên và thông báo về khiếm khuyết KSNB phát hiện. Phát triển theo hướng kiểm toán nội bộ Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ định nghĩa các mục tiêu của KSNB bao gồm: độ tin cậy và tính trung thực của thông tin; tuân thủ các chính sách, kế hoạch, thủ tục, luật pháp và quy định; bảo vệ tài sản; sử dụng hiệu quả và kinh tế các nguồn lực; hoàn thành các mục đích và mục tiêu cho các hoạt động hoặc chương trình. Phát triển theo hướng chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể Theo Báo cáo Basel (1998) của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng, các yếu tố của KSNB bao gồm: Sự giám sát của nhà quản lý và văn hóa kiểm soát; ghi nhận và đánh giá rủi ro; các hoạt động kiểm soát và phân chia trách nhiệm; thông tin và truyền thông; giám sát và điều chỉnh sai sót. Hướng dẫn về giám sát hệ thống KSNB COSO cũng đưa ra dự thảo hướng dẫn về giám sát hệ thống kSNB (Exposure Draft, COSO 2008) dựa trên khuôn mẫu COSO 1992 nhằm giúp các tổ chức giám sát chất lượng của chính hệ thống KSNB của họ.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 Báo cáo COSO 2013 Tháng 5 năm 2013, COSO đã ban hành khuôn mẫu hệ thống KSNB mới để phản ánh những thay đổi về nền kinh tế thế giới trong vòng 20 năm kể từ khi báo cáo COSO 1992 được ban hành. Trong khi tiếp tục hướng tiếp cận dựa trên các nguyên tắc, khuôn mẫu KSNB mới kết hợp thêm các hướng dẫn để minh họa và giải thích các khái niệm trong khuôn khổ, đồng thời được thiết kế để giúp các tổ chức thích ứng với những thay đổi mạnh mẽ trong môi trường kinh doanh và môi trường hoạt động. Khái niệm KSNB Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về KSNB do các tổ chức về kế toán, kiểm toán đưa ra nhưng khái niệm được chấp nhận rộng rãi nhất vẫn là khái niệm KSNB theo COSO 1992, và vẫn được giữ nguyên trong COSO 2013. Theo Báo cáo COSO 1992 và COSO 2013, “KSNB là một quá trình bị chi phối bởi Ban giám đốc, Nhà quản lý và các nhân viên của đơn vị, được thiết kế để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau đây: Tính hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động; tính tin cậy của BCTC; và tính tuân thủ các luật lệ và quy định.
Ý nghĩa, mục tiêu và hạn chế của hệ thống KSNB 2. Ý nghĩa của KSNB Trong phạm vi cơ sở, KSNB là việc tự kiểm tra và giám sát mọi hoạt động trong tất cả các khâu của quá trình quản lý nhằm đảm bảo các hoạt động đúng luật pháp và đạt được các kế hoạch cũng như mục tiêu đề ra với hiệu quả cao nhất và bảo đảm sự tin cậy của báo cáo tài chính. Như vậy, hệ thống KSNB có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với đơn vị. Trước hết hệ thống KSNB sẽ giúp giảm bớt rủi ro tiềm ẩn trong quá trình hoạt động kinh doanh.
Đặc biệt hệ thống KSNB giúp hạn chế sự thông đồng của các cá nhân, sự lạm quyền của nhà quản lý, sai sót không cố ý của nhân viên, tạo ra quy trình kiểm soát hiệu quả để giảm chi phí hoạt động và chi phí sửa chữa sai sót. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 Bên cạnh đó, hệ thống KSNB giúp DN giảm bớt rủi ro không tuân thủ chính sách và quy trình kinh doanh của đơn vị, bảo vệ tài sản, đảm bảo tính hợp lý của số liệu kế toán, nâng cao tính minh bạch của số liệu… Ngoài ra các quá trình kiểm soát trong đơn vị được thiết kế nhằm ngăn ngừa sự lặp đi lặp lại không cần thiết của các tác nghiệp, gây ra sự lãng phí trong hoạt động và sử dụng kém hiệu quả các nguồn lực. Mục tiêu của KSNB Theo COSO 1992 và 2013, hệ thống KSNB nhằm đạt được các mục tiêu: - Mục tiêu về sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động: Nhấn mạnh đến sự hữu hiệu và hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực hoạt động như mục tiêu về tài chính, bảo vệ tài sản… - Mục tiêu về sự tin cậy của báo cáo đơn vị: Nhấn mạnh đến tính trung thực và độ tin cậy của các thông tin trên BCTC và phi tài chính của DN. - Mục tiêu về sự tuân thủ các luật lệ và quy định: Đơn vị phải tuân thủ pháp luật và các quy định.
Hạn chế của hệ thống KSNB Dù hệ thống KSNB mang lại nhiều lợi ích và có ý nghĩa quan trọng đối với DN nhưng cũng không tránh khỏi những hạn chế nhất định: - Hệ thống KSNB thường bị xem xét trong mối quan hệ giữa lợi ích mang lại và chi phí bỏ ra.