CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) TỚI TĂNG TRƯỞNG 1.1/ Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Xuất phát từ nhiều khía cạnh, quan điểm khác nhau trên thế giới đã có nhiều khái niệm về FDI: Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đưa ra khái niệm: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc DN 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này”. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD, 1996) đưa ra khái niệm: “Một DN đầu tư trực tiếp là một DN có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân trong đó nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu thường hoặc có quyền biểu quyết. Điểm mấu chốt của đầu tư trực tiếp là chủ định thực hiện quyền kiểm soát công ty”. Tuy nhiên không phải tất cả các quốc gia nào đều sử dụng mức 10% làm mốc xác định FDI.
Trong thực tế có những trường hợp tỷ lệ sở hữu tài sản trong DN của chủ đầu tư nhỏ hơn 10% nhưng họ vẫn được quyền điều hành quản lý DN, trong khi nhiều lúc lớn hơn nhưng vẫn chỉ là người đầu tư gián tiếp”. Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF, 1977) đưa ra định nghĩa về FDI: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài ám chỉ số đầu tư được lợi ích lâu dài trong một DN hoạt động ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư, mục đích của nhà đầu tư là giành được tiếng nói có hiệu quả trong công việc quản lý DN đó”.2/ Lợi ích của thu hút FDI Theo Nguyễn Thị Tuệ Anh (2006), FDI có thể ảnh hưởng tới nền kinh tế ở tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước nghèo, kỳ vọng lớn nhất của việc thu hút FDI chủ yếu là nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Điều này được thể hiện qua những tiêu chí sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 - Bổ sung cho nguồn vốn trong nước/ tỉnh thành.
Đối với các nước có nền kinh tế đang phát triển hay các nước kém phát triển thì nhu cầu về nguồn vốn để phát triển kinh tế rất quan trọng. Các nước này có nguồn vốn thấp, mà trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố vốn là yếu tố luôn được đề cập. Một nền kinh tế của một quốc gia muốn tăng trưởng nhanh hơn thì phải cần nhiều vốn hơn, nếu nguồn vốn trong nước không cung cấp đủ thì nó sẽ muốn có thêm vốn từ nước ngoài đầu tư vào, trong đó nguồn vốn FDI cũng là một trong những nguồn vốn đầu tư nước ngoài quan trọng. - Tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý để nâng cao chất lượng sản phẩm và nâng cao năng suất.
- Tham gia mạng lưới SX toàn cầu, tăng XK. Những DN FDI có mối hiểu biết về thị trường thế giới rộng hơn so với các DN trong nước, bên cạnh đó các DN FDI thường hướng vào XK sản phẩm do mình SX ra, điều này sẽ làm gia tăng kim ngạch XK cũng như thúc đẩy các DN trong nước phát triển theo. - Tăng số lượng việc làm và đào tạo lao động. Một trong những mục đích của FDI là khai thác các lợi thế so sánh để đạt được chi phí SX thấp, vì vậy các DN có vốn FDI sẽ thuê nhiều lao động địa phương (vì mức lương thấp).
Trong quá trình thuê lao động đó, các DN FDI đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp. Điều này sẽ tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước thu hút FDI. Trong trường hợp này, không chỉ có lao động thông thường mà còn có cả các nhà chuyên môn địa phương, các nhà quản lý cũng có cơ hội làm việc và được bồi dưỡng ở các DN FDI. - Nguồn thu ngân sách lớn: nguồn thu thuế thu nhập DN, thuế VAT, thuế XNK từ các DN FDI cũng góp một phần lớn vào nguồn thu ngân sách của quốc gia/ địa phương.3/ Phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Hiện nay có nhiều cách phân loại FDI, tùy theo tiêu chí phân loại mà phân thành các loại.
Theo bách khoa toàn thư Wikipedia (http://vi.org), tổ chức Quốc tế (WTO, WB, IFC) phân loại FDI theo một số phương pháp phổ biến sau: - Theo quan điểm của nhà đầu tư: FDI được phân thành TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 FDI theo chiều ngang: thực hiện SX cùng một loại hàng hóa ở nước nhận đầu tư giống như được SX ở nước đi đầu tư. FDI theo chiều dọc: hướng vào việc khai thác nguyên liệu thô hoặc làm cho SX gắn với thị trường tiêu thụ. Đầu tư vào công ty chuyên cung cấp đầu vào SX hoặc chuyên bán đầu ra cho sản phẩm. FDI kết hợp: thực hiện cả theo chiều ngang và chiều dọc.
- Theo quan điểm của nước tiếp nhận đầu tư: FDI được chia thành FDI thay thế hàng nhập khẩu: là việc các DN FDI thực hiện SX hàng hóa và dịch vụ thay thế hàng nhập khẩu mà trước đây nước tiếp nhận đầu tư phải nhập khẩu hàng hóa đó từ nước ngoài để phục vụ cho nhu cầu trong nước. FDI hướng về XK: là việc các DN FDI thực hiện SX hàng hóa và dịch vụ nhằm phục vụ cho XK là chính. - Theo động cơ của nhà đầu tư: FDI được phân thành các loại FDI tìm kiếm nguồn lực: là loại FDI hướng đến mục tiêu khai thác các lợi thế so sánh của quốc gia tiếp nhận đầu tư như về nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ, có kỹ thuật tốt và nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên rẻ, dồi dào ở nước tiếp nhận đầu tư như khoáng sản, dầu khí, nguyên liệu thô, thủy sản, tiềm năng du lịch… FDI tìm kiếm thị trường: mục tiêu hàng đầu của loại FDI này là nhằm thâm nhập, mở rộng thị trường tiêu thụ ở quốc gia tiếp nhận đầu tư hoặc giữ thị trường khỏi bị đối thủ cạnh tranh dành mất. Ngoài ra, hình thức đầu tư này còn nhằm tận dụng các hiệp định hợp tác kinh tế giữa các nước tiếp nhận với các nước và khu vực khác, lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị trường khu vực và toàn cầu.
Cụ thể đầu tư của FDI loại này cũng có thể là DN phụ trợ cho các FDI khác. Ví dụ: một FDI SX phụ tùng ô tô có thể đi theo các FDI chế tạo ô tô. FDI tìm kiếm hiệu quả: là loại FDI tận dụng lợi thế chi phí đầu vào thấp tại nước tiếp nhận đầu tư thông qua thuế suất ưu đãi, giá nguyên liệu đầu vào và nhân công rẻ, chi phí thuê đất rẻ, chi phí sử dụng điện nước, viễn thông, vận tải thấp… TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 FDI tìm kiếm tài sản chiến lược: xuất hiện khi các tập đoàn, TNC trên thế giới tiến hành các vụ sáp nhập, mua lại DN hoặc liên minh nhằm thúc đẩy các mục tiêu chiến lược của họ. Cụ thể như để khai thác thị trường nội địa, một TNC có thể mua lại một DN nhà nước đang cổ phần thay vì phải thành lập một công ty mới.4/ Hình thức đầu tư FDI phổ biến Trong thực tiễn FDI được thực hiện theo nhiều hình thức khác nhau, theo Luật Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam (1996) và Luật Đầu tư Việt Nam (2005), các hình thức đầu tư nước ngoài vào Việt Nam gồm những hình thức sau: 1.1/ Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng kinh doanh Là hình thức đầu tư theo hợp đồng ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên (các bên hợp doanh) để cùng nhau tiến hành một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh ở Việt Nam trên cơ sở quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên, mà không thành lập một pháp nhân mới.
Trong quá trình kinh doanh các bên có thể thành lập ban điều phối để theo dõi, giám sát việc thực hiện hợp đồng nhưng ban điều phối không phải là đại diện pháp lý cho các bên hợp doanh.2/ Doanh nghiệp liên doanh DN liên doanh được thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng kinh doanh ký giữa các bên Việt Nam với bên hoặc các bên nước ngoài, hoặc giữa DN liên doanh với bên hoặc các bên nước ngoài nhằm hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Khác với hợp đồng kinh doanh, DN liên doanh là một pháp nhân mới, mỗi bên liên doanh chịu trách nhiệm đối với bên kia, với DN liên doanh và bên thứ ba trong phạm vi phần góp vốn của mình vào vốn pháp định.3/ Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài DN 100% vốn nước ngoài là DN thuộc quyền sở hữu của tổ chức, cá nhân nước ngoài, do tổ chức, cá nhân nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, là một pháp nhân Việt Nam; được thành lập sau khi cơ quan có thẩm quyền về hợp tác và đầu tư Việt Nam cấp giấy phép đầu tư và chứng nhận đăng ký điều lệ DN.4/ Đầu tư theo hợp đồng BOT (Built – Operate - Transfer contract, hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao) Hợp đồng BOT là văn bản ký kết giữa chủ đầu tư với cơ quan quản lý có thẩm quyền để xây dựng các công trình hạ tầng như cầu đường, sân bay, bến cảng, nhà máy điện. tại Việt Nam.
Hoạt đồng BOT đuợc thực hiện thông qua 100% vốn nước ngoài hoặc vốn nước ngoài cộng với vốn chính phủ Việt Nam hoặc của tổ chức, cá nhân Việt Nam. DN được thành lập thực hiện hợp đồng BOT mặc dù hợp đồng dưới hình thức DN liên doanh hoặc DN 100% vốn nước ngoài nhưng đối tác cùng thực hiện hợp đồng là các cơ quan quản lý nhà nước ở nước sở tại. Ngoài ra, còn có hình thức BTO (Built – Transfer – Operate contract, hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh), BT (Built – Transfer contract, hợp đồng xây dựng - chuyển giao).5/ Đầu tư thông qua mô hình công ty mẹ và con (Holding company) Đầu tư thông qua mô hình công ty mẹ và con là một trong những mô hình tổ chức quản lý được thừa nhận rộng rãi ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường phát triển.