CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN SAU THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA 1. Khái quát chung về lao động nông nghiệp, việc làm và thu nhập của người lao động 1. Khái niệm lao động nông nghiệp Tùy góc độ nghiên cứu mà các nhà khoa học đã đưa ra các quan niệm về lao động tương ứng. Tuy nhiên, các quan niệm đều tập trung chủ yếu vào hai khía cạnh: Thứ nhất, coi lao động là hoạt động, là phương thức tồn tại của con người.
Thứ hai, coi lao động chính là bản thân con người, là sự nỗ lực vật chất và tinh thần của con người dưới dạng hoạt động tạo ra những sản phẩm vật chất và tinh thần để thỏa mãn nhu cầu của con người. Dựa vào quan niệm lao động là hành động xã hội, người ta phân biệt năm yếu tố cơ bản tạo nên cấu trúc của lao động: đối tượng lao động, mục đích lao động, công cụ lao động, điều kiện lao động và chủ thể lao động. Trong đó chủ thể lao động là con người với tất cả đặc điểm tâm sinh lý, xã hội được hình thành và phát triển trong quá trình xã hội hóa cá nhân. Đối với mỗi dạng hoạt động lao động đòi hỏi ở mỗi cá nhân một tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nhất định.
Trên cơ sở đó, có thể khẳng định rằng lao động chính là bản thân con người với tất cả sự nỗ lực vật chất, tinh thần của nó, thông qua hoạt động lao động của mình, sử dụng các công cụ lao động, tác động đến đối tượng lao động để đạt được mục đích nhất định [16, tr15]. Lao động nông nghiệp là lao động hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh nông nghiệp. Để hiểu bản chất khái niệm lao động, cần tìm hiểu các khái niệm: nguồn nhân lực, nguồn lao động. 6 Nguồn nhân lực theo nghĩa rộng là nguồn lực con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận nguồn lực có thể huy động được để tham gia vào quá trình phát triển đất nước.
Nguồn nhân lực Theo nghĩa hẹp, là bộ phận của dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt: về số lượng, là tổng thể những người trong độ tuổi lao động và thời gian làm việc có thể huy động được của họ; về chất lượng, thể hiện ở sức khỏe, trình độ chuyên môn, ý thức, tác phong, thái độ làm việc của người lao động. Nguồn lao động (hay lực lượng lao động) là một bộ phận dân số trong độ tuổi lao động quy định, thực tế có tham gia lao động và những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm kiếm việc làm. Nguồn lao động cũng được biểu hiện trên hai mặt: số lượng và chất lượng.
Về độ tuổi, mỗi quốc gia có quy định giới hạn tối đa và giới hạn tối thiểu khác nhau. Phần lớn các quốc gia quy định giới hạn độ tuổi tối thiểu là 14 hoặc 15 tuổi; giới hạn độ tuổi tối đa ở các nước Bắc Âu (Đan Mạch, Thụy Sĩ, Na Uy, Phần Lan) là 74 tuổi; ở các nước đang phát triển là 65 tuổi. Ở Việt Nam độ tuổi này được quy định: tối thiểu là 15 tuổi, tối đa là 60 tuổi đối với nam và 55 tuổi đối với nữ [18, tr5] Trong điều kiện ngày nay (nền kinh tế thị trường, hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, nền kinh tế tri thức,.) việc không ngừng nâng cao chất lượng nguồn lao động có ý nghĩa quan trọng đặc biệt. Điểm đáng lưu ý của lao động nông nghiệp là mọi hoạt động lao động, sản xuất kinh doanh luôn gắn liền với đối tượng cây trồng, vật nuôi – là những cơ thể sống với những đặc điểm riêng biệt, không thể xóa bỏ.
Điều đó làm cho lao động nông nghiệp mang sắc thái riêng, không giống với lao động trong các ngành kinh tế khác. Đặc biệt là tính chất thời vụ của nông nghiệp, làm cho lao động nông nghiệp lúc thì căng thẳng, lúc lại nhàn rỗi; tình trạng thiếu việc làm tạm thời là khá phổ biến. Khái niệm việc làm Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền hoặc bằng hiện vật. 7 Theo Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Điều 13, chương 2 (việc làm) nêu rõ : “Mọi hoạt động lao động tạo ta nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”.
Khái niệm này được vận dụng trong các cuộc điều tra thực trạng lao động và việc làm hàng năm của Việt Nam và được cụ thể hóa thành ba dạng hoạt động sau: - Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương dưới dạng bằng tiền hoặc bằng hiện vật. - Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân. Bao gồm sản xuất nông nghiệp trên đất do chính thành viên được quyền sử dụng; hoặc hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chính thành viên đó làm chủ toàn bộ hoặc một phần. - Làm công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó.
Bao gồm sản xuất nông nghiệp trên đất do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ có quyền sử dụng; hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ làm chủ hoặc quản lý. Theo khái niệm trên, hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn hai điều kiện: + Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và cho các thành viên trong gia đình. + Hai là, hoạt động đó phải đúng luật; không bị pháp luật cấm Hai tiêu thức này có quan hệ chặt chẽ với nhau, và là điều kiện cần và đủ của một hoạt động được thừa nhận là việc làm. Nếu một hoạt động chỉ tạo ra thu nhập nhưng vi phạm luật pháp như: trộm cắp, buôn bán hêrôin, mại dâm.
không thể được công nhận là việc làm. Mặt khác, một hoạt động dù là hợp pháp, có ích nhưng không tạo ra thu nhập cũng không được thừa nhận là việc làm – chẳng hạn như công việc nội trợ hàng ngày của phụ nữ cho chính gia đình mình: đi chợ, nấu cơm, giặt giũ quần áo. Nhưng nếu người phụ nữ đó cũng thực hiện các công việc nội trợ tương tự cho gia đình người khác thì hoạt động của họ lại được thừa nhận là việc làm vì được trả công. Điểm đáng lưu ý là tùy theo phong tục, tập quán của mỗi dân tộc và pháp luật của các quốc gia mà người ta có một số quy định khác nhau về việc làm.
Ví dụ: 8 mại dâm của phụ nữ được coi làm việc làm của phụ nữ ở Thái Lan, Philippin vì được pháp luật bảo hộ và quản lý; nhưng ở Việt Nam hoạt động đó được coi là hoạt động phi pháp, vi phạm pháp luật và không được thừa nhận là việc làm. Với khái niệm trên còn có điểm bất hợp lý ở chỗ: những hoạt động có ích cho gia đình, cho xã hội, không vi phạm pháp luật, nhưng không tạo ra thu nhập “trực tiếp” cho người tham gia hoạt động – như công việc nội trợ của phụ nữ,. lại không được coi là việc làm. Thực tế cho thấy, nhờ phụ nữ làm công việc nội trợ, đã góp phần làm giảm chi tiêu của gia đình; tạo điều kiện cho chồng, con yên tâm hoạt động sản xuất, kinh doanh đồng thời góp phần tăng thêm lượng vốn đầu tư vào sản xuất, phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho cả gia đình.
Vì vậy, thực chất công việc nội trợ của phụ nữ cũng góp phần làm tăng thu nhập cho gia đình. Với ý nghĩa đó, có thể thống nhất với quan điểm sau: việc làm là một dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, có thu nhập hoặc tạo điều kiện tăng thêm thu nhập cho người thân, gia đình hoặc cộng đồng [27, tr32]. Trong nền kinh tế thị trường, ở đâu có lợi nhuận, các doanh nghiệp sẽ tăng cường sử dụng lao động, tăng sản lượng, khối lượng việc làm sẽ tăng lên. Mặt khác, khi nhu cầu thị trường suy giảm, các doanh nghiệp sẽ phải cắt giảm sản lượng, khối lượng việc làm sẽ giảm.
Trong xu thế công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế, khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi khối lượng công việc có yêu cầu về mặt kỹ thuật cao tăng nhanh chóng. Mặt khác, năng suất lao động tăng đã làm ảnh hưởng rất lớn tới “cầu” lao động và “cơ cấu” lao động. Nếu người lao động không tự nâng cao tay nghề, nâng cao trình độ của mình theo kịp với yêu cầu của sản xuất kinh doanh, phân công lao động xã hội không phát triển, không tạo ra được nhiều chỗ làm mới cho người lao động thì tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm là điều khó tránh khỏi. Trong nông nghiệp, lao động mang tính thời vụ, do vậy vào thời kỳ căng thẳng, khối lượng công việc nhiều, tăng đột biến.
Tuy nhiên, lúc nhàn rỗi, khối lượng công việc giảm đột ngột, thậm chí có lúc người nông dân không có việc làm. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay dân số ở nông thôn vẫn tăng nhanh, đất canh tác 9 có xu hướng giảm xuống, mặt khác với khả năng ứng dụng máy móc, tiến bộ khoa học công nghệ,. đã giải phóng một lượng lao động lớn ra khỏi ngành nông nghiệp. Nếu không tạo đủ công ăn, việc làm cho người nông dân, đặc biệt trong lúc nông nhàn với thu nhập được người nông dân chấp nhận, sẽ dẫn đến hiện tượng nông dân đổ xô ra các thành phố và các khu công nghiệp tìm kiếm việc làm sẽ nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp trong việc quản lý lao động và quản lý xã hội.
Khái niệm thu nhập Xác định thu nhập của người lao động có ý nghĩa rất quan trọng. Thông qua thu nhập của một người hoặc một gia đình, có thể đánh giá được mức sống của họ trong từng giai đoạn cụ thể, từ đó đưa ra các giải pháp đúng đắn nhằm nâng cao thu nhập cho người lao động. Trong tiến trình phát triển khái niệm thu nhập được tiếp cận và nhận thức ngày càng đầy đủ. Vậy, thu nhập là gì? Thu nhập là số tiền người lao động nhận được từ các nguồn thu và họ được toàn quyền sử dụng trong tiêu dùng cho bản thân và gia đình.