CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT CHO QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1. Khái niệm về việc làm Việc làm có nhiều khái niệm khác nhau, tuy nhiên vẫn có một quan điểm chung nhất là các hoạt động của con người để tạo ra của cải vật chất. Khái niệm việc làm có thể được hiểu ở hai trạng thái “tĩnh” và “động”.
Ở trạng thái “ tĩnh” việc làm chỉ nhu cầu sử dụng sức lao động và các yếu tố vật chất - kỹ thuật khác nhằm mục đích tạo ra thu nhập hoặc kết quả có ích cho cá nhân, cộng đồng. Theo cách hiểu này, việc làm là khả năng làm tăng của cải của xã hội, tăng lợi ích cho dân cư và cộng đồng, là khả năng sử dụng nguồn nhân lực và là các hoạt động có ích. Theo nghĩa “động” việc làm là hoạt động của dân cư nhằm tạo ra thu nhập có lợi cho cá nhân hoặc cộng đồng, trong khuôn khổ pháp luật cho phép: việc làm là hình thức vận dụng sức lao động, là hoạt động có chủ đích của con người, được tiến hành trong một không gian và thời gian nhất định với sự kết hợp các yếu tố giữa vật chất và kỹ thuật khác [11,10]. Từ khái niệm trên có thể hiểu việc làm là tác động qua lại giữa hành động của con người với những điều kiện vật chất - kỹ thuật và môi trường tự nhiên, tạo ra giá trị vật chất và tinh thần mới cho bản thân và xã hội, đồng thời những hoạt động phải trong khuôn khổ pháp luật cho phép.
Nói cách khác việc làm là tổng thể các hoạt động kinh tế có liên quan đến thu nhập và đời sống của dân cư. Theo tác giả Đặng Xuân Thao trong cuốn sách “Mối quan hệ giữa dân số và việc làm” đã định nghĩa “Việc làm là hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, có thu nhập hoặc tạo điều kiện tăng thêm thu nhập cho người thân, cho gia đình hoặc cộng đồng”. Theo khái niệm do Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đưa ra thì việc làm được quan niệm là những hoạt động tạo ra nguồn thu nhập và không trái với pháp luật. 7 Ở Việt Nam, điều 13 Luật Lao động được Quốc hội thông qua ngày 23/6/1994 quy định: “Mọi hoạt động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật cấm, đều được thừa nhận là việc làm”.
Có thể phân loại việc làm thành 3 dạng [2, 52]: - Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật cho công việc đó, nói cách khác là các công việc làm thuê. - Tự làm các công việc hoặc tổ chức làm để tạo ra thu nhập, lợi nhuận cho bản thân, bao gồm hoạt động nông nghiệp trên đất do chính thành viên đó sở hữu, quản lý hay có quyền sử dụng hoặc hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp do chính thành viên đó làm chủ toàn bộ hoặc một phần. Nói cách khác là bỏ vốn kinh doanh. - Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền công, tiền lương cho công việc đó, bao gồm sản xuất nông nghiệp trên đất do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ sở hữu, quản lý hay có quyền sử dụng hoặc hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ làm chủ hoặc quản lý.
Tóm lại, từ những khái niệm trên, trong điều kiện hiện nay có thể hiểu việc làm như sau: Việc làm là hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, tạo thu nhập hoặc lợi ích cho bản thân gia đình người lao động hoặc cho một cộng đồng nào đó. Việc làm bao gồm ba dạng: Một là những việc làm nhằm nhận được tiền công, tiền lương dưới dạng tiền hoặc hiện vật. Hai là việc làm nhằm thu được lợi nhuận, ba là những công việc cho hộ gia đình nhưng không được trả thù lao. Người có việc làm Theo tác giả Nguyễn Hữu Dũng và Trần Hữu Trung trong cuốn sách “Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam”, đã đưa ra khái niệm về người có việc làm như sau: “Người có việc làm là người đang làm việc trong những lĩnh vực, ngành nghề, dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản và gia đình, đồng thời đóng góp một phần cho xã hội”.
Theo khái niệm do Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về người có việc làm như sau: “Người có việc làm là người đang làm một việc gì đó được trả tiền công, hoặc 8 những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự thỏa mãn lợi ích hay thay thế thu nhập của gia đình”. Theo Bộ Lao động thương Binh và Xã hội: người có việc làm là người đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân mà trong tuần lễ liền kề trước thời điểm điều tra có thời gian làm việc không ít hơn mức chuẩn quy định (8 giờ). Từ những khái niệm trên chúng ta có thể kết luận người có việc là những người trong độ tuổi lao động và đang làm việc trong các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội. Phân loại việc làm và thất nghiệp Căn cứ vào thời gian thực hiện công việc Tổ chức Lao động Quốc tế phân chia việc làm thành các loại: - Việc làm ổn định và việc làm tạm thời: căn cứ vào số thời gian có việc làm thường xuyên trong một năm.
Trong đó người có việc làm ổn định là người có việc từ 6 tháng trở lên trong một năm, hoặc làm việc dưới 6 tháng trong một năm nhưng vẫn tiếp tục làm công việc đó trong những năm tiếp theo [11,17]. - Việc làm đủ thời gian và việc làm không đủ thời gian: căn cứ vào số thời gian thực hiện trong một tuần. Người đủ việc làm là người có số giờ làm việc trong tuần lớn hơn hoặc bằng 36 giờ; hoặc những người có số giờ làm việc nhỏ hơn 36 giờ nhưng không có nhu cầu làm thêm, hoặc những người có số giờ làm việc nhỏ hơn 36 giờ nhưng bằng hoặc lớn hơn giờ chế độ quy định đối với người làm các công việc nặng nhọc, độc hại. - Việc làm chính và việc làm phụ: Căn cứ vào khối lượng thời gian hoặc mức độ thu nhập trong thực hiện một công việc nào đó.
Việc làm chính là công việc mà người thực hiện dành nhiều thời gian nhất so với các công việc khác và mang lại thu nhập cao nhất. Người không có việc làm hay nói cách khác là thất nghiệp được hiểu theo cách phân loại như sau: - Người không có việc làm (thất nghiệp) là những người trong độ tuổi lao động, có sức lao động đang tích cực tìm việc làm nhưng chưa được làm việc hoặc đang chờ được trở lại làm việc. 9 Tổ chức ILO đưa ra các tiêu thức sau: Xét trong một khoảng thời gian nhất định những người thất nghiệp là những người có khả năng làm việc nhưng không có việc làm. Phần lớn các nước đều sử dụng khái niệm trên để xác định người thất nghiệp, song cũng có sai lệch khi xác định khoảng thời gian không có việc làm.
- Thất nghiệp tự nhiên: trong nền kinh tế quốc dân luôn tồn tại một lượng thất nghiệp nhất định gọi là thất nghiệp tự nhiên. Thất nghiệp tự nhiên là lực lượng thất nghiệp trong điều kiện thị trường lao động chung của nền kinh tế đã được cân bằng. Quy mô thất nghiệp tự nhiên lớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ tăng của lao động. Tạo việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động Tạo việc làm là tổng hợp những hoạt động cần thiết để tạo ra những chỗ làm việc mới, giúp người lao động chưa có việc làm có được việc làm; tạo thêm việc làm cho những người lao động đang thiếu việc làm và giúp người lao động tự tạo việc làm.
Như vậy, tạo việc làm bao gồm: - Tạo mới việc làm (tạo ra những chỗ làm việc mới, giúp người lao động chưa có việc làm có được việc làm); - Tạo đủ việc làm (tạo thêm việc làm cho người lao động đang thiếu việc làm và giúp người lao động đang thiếu việc làm có việc làm đầy đủ hơn); - Tự tạo việc làm (hỗ trợ cho người lao động tự mở ra hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho chính mình và cho người khác). Giải quyết việc làm là tạo ra các cơ hội để người lao động có việc làm và tăng thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội. Giải quyết việc làm cần phải xem xét cả từ ba phía: người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước. Giải quyết việc làm theo nghĩa rộng là tổng thể những biện pháp, chính sách kinh tế - xã hội của nhà nước, cộng đồng và bản thân người lao động tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội để đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động và được lao động (có việc làm và có thu nhập).
10 Giải quyết việc làm theo nghĩa hẹp là các biện pháp, chính sách chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp, chưa có việc làm hoặc thiếu việc làm nhằm tạo việc làm cho người lao động, để giảm tỷ lệ thất nghiệp. Khái niệm giải quyết việc làm rộng hơn khái niệm tạo việc làm. Trong phạm trù giải quyết việc làm, ngoài nội dung tạo việc làm (như đã đề cập ở trên), còn có nội dung môi giới việc làm. Môi giới việc làm về thực chất là hoạt động nhằm giúp người lao động đang tìm việc làm và chủ sử dụng lao động đang cần tuyển lao động dễ dàng gặp nhau, qua đó giúp người lao động dễ dàng tìm được việc làm.
Xuất khẩu lao động và chuyên gia về thực chất cũng là một hoạt động môi giới việc làm. Khái niệm về thu nhập Thu nhập là phần chênh lệch giữa khoản thu về và khoản chi phí đã bỏ ra. Về bản chất, theo nghĩa rộng thu nhập gồm hai bộ phận hợp thành: thù lao cần thiết (tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp mang tính chất tiền lương,.) và phần có được từ thặng dư sản xuất (hoặc lợi nhuận). Tuy nhiên, ở phạm trù khác nhau (toàn bộ nền kinh tế, ngành kinh tế, doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân), biểu hiện của thu nhập có những đặc thù riêng biệt.